Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

LOAN ĐẦU

TẦM LONG TRÓC MẠCH
Nguyên khí còn gọi là Long, Long là một dạng Khí Tiên thiên, có tác dụng rất cơ bản đến sự sống các sinh vật.
Vấn đề là tìm nơi tụ Long. Để làm việc này cần tìm gốc của Long.
Trước hết Nguyên khí hay Khí Thiên giáng từ Trời xuống các đỉnh núi cao theo hình xoắn, như đỉnh núi Hymalaya, núi Tản Viên, núi Tam Đảo…
Con Người có đầu và huyệt Bác Hội để nhận (hút) khí Thiên vào trong cơ thể mình, thì Quả đất có những đỉnh núi cao cũng để nhận khí Thiên vào lòng đất đai.
Nơi Long xuất phát gọi là Tổ Sơn, nơi Long kết thúc gọi là Minh Đưòng.
Long phải có nước đi theo, vì nước là môi trường hấp thụ Long (ở nhiều nước, các nhà khoa học có nghiên cứu các đặc tính của nước có Trường sinh học, tức là có Long. Nước có chứa Long có sức căng mặt ngoài tăng lên).
Ngoài Tổ Sơn, Long còn có thể có những xuất phát điểm khác gọi là Thiếu Sơn. Như với Nguyên khí – Long mang theo bởi dòng Cửu Long Giang thì Hymalaya là Tổ Sơn, còn dãy Trường Sơn là Thiếu Sơn. Như thế đất nước ta là một Minh Đường rộng lớn mà Nguyên khí được cung cấp bởi hai loại anten lớn là Hymalaya và dãy Tràng Sơn.
Nguyên khí - bằng một cơ chế nào đó - được chuyển đến nhiều địa điểm khác nhau của đất nước ta như Núi Ba Vì và các nơi thờ Thánh Tản Viên , Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Thất Sơn, Yên Tử Sơn…

ĐIỂM HUYỆT
Các hình thể huyệt kết
Có bốn hình thể huyệt kết như sau:

Huyệt hình Oa thì tròn, huyệt hình Kiềm thì dài, huyệt hình Nhũ thì tròn, huyệt hình Đột thì dài.
Các huyệt Oa và Kiềm thì phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (ở núi đồi). Các huyệt Nhũ và Đột thường ở chỗ các mạch bình dương (ở những nơi có các độ cao chỗ thấp ít khác nhau, như ở các ruộng). Các huyệt trên còn gọi là kết Oa, kết Kiềm, kết Nhũ, kết Đột.
Huyệt ở chỗ quá cao thì sát, ở chỗ quá thấp thì yểu.

Nơi núi cao, cần điểm huyệt ở nơi vùng thấp, để tránh gió, do ở nơi cao gió sẽ tán khí.
Trái lại ở những nơi bình dương, cần điểm huyệt ở chỗ cao nhất, như tại các gò cao, tránh thuỷ phá.
Nếu có sắc thổ đẹp, có cây lá xanh tươi thì việc điểm huyệt ở nơi đó càng tốt.
Những nơi bằng phẳng, xung quanh cs thành cao là nơi điểm huyệt tốt.
Ở những núi đá không có huyệt. Nhưng nếu ở đó có chỗ vũng Oa thì nên điểm huyệt ở đó.

SƠN THUỶ PHÁP
Sơn thuỷ pháp là cách xem tướng đất để biết về người có liên quan.
Sơn chủ người, thuỷ chủ tiền của.
Núi đầy đặn sẽ sinh người mập mạp, núi đơn bạc sẽ sinh người gày ốm. Núi tinh sinh người tốt giỏi, núi ô trọc sinh người u mê.
Thuỷ tĩnh thì sinh người thanh tú, thuỷ chảy xiết thì sinh người nghèo khổ. Thuỷ dồn tụ thì sinh người giàu có.
Sơn lởm chởm là nơi có ác khí. Thuỷ chảy kêu réo là nơi hung.
Có sơn nhưng không có thuỷ gọi là cô sơn. Có thuỷ nhưng không có sơn gọi là cô thuỷ.

MINH ĐƯỜNG THUỶ PHÁP
Chỗ nước tụ trước huyệt gọi là Minh Đường. Có thể có một hay nhiều Minh Đường. Minh Đường gần huyệt nhất gọi là Nội Đường, Minh Đường xa huyệt nhất gọi là Ngoại Đường, Minh Đường ở giữa gọi là Trung Đường.
Có Minh Đường mới có huyệt kết, nếu không thì sẽ không có huyệt kết.
Minh Dường ngay ngắn thì con cháu hiền tài. Minh Đường nghiêng lệch thì con cháu du đưng, nghèo khó.
Minh Đường có nước tụ như nhà có chứa ngọc, còn Minh Đường có nước tiêu tan thì như nhà tán tài, điều đáng sợ nhất là Minh Đường có thể cạn nước về mùa thu.
Minh Đường nằm nghiêng thì tuy là quan được nhưng trước sau cũng bị cách chức hay thoái chức.
Minh Đường gần huyệt thì phát sớm. Minh đường xa huyệt thì phát chậm.
Minh đưòng thụ nước bên trái thì trai trưởng phát trước, tụ bên phải thì trai thứ phát trước (còn nữ thì sao?)
Nếu nước chảy từ Tây Bắc đến Đông Nam, thì cần cho huyệt hướng về phía nước tới, tức là về phía Tây Bắc, để hứng được tất cả nước từ xa đến.

LONG HỔ PHÁP
Xung quang huyệt có thể có những giải đất bao bọc huyệt, bảo vệ huyệt như chân tay bảo vệ cơ thể.
Giải bên trái gọi là Thanh Long hay Long, có nam tính.
Còn giải bên phải gọi là Bạch Hổ hay Hổ và có nữ tính (trai trái gái phải). Long cần phải dài, Hổ cần phải ngắn.
Long, Hổ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến con cái. Chẳng hạn Long chủ sinh con trai, văn quan, Hổ chủ sinh con gái, vũ tướng.
Nếu Long (nam) ôm lấy Hổ (nữ) thì địa thế rất quý.
Còn nếu Hổ (nữ) ôm lấy Long (nam) thì địa thế không hoàn chỉnh.
Nhiều Long, nhiều Hổ thì phát nhiều đời. Đơn Long, đơn Hổ thì chỉ phát một đời.
Hổ từ bên phải đến, kéo dài qua bên trái là Hổ nghịch. Long từ bên trái kéo dài qua bên phải là Long nghịch
Điều kị nhất là Long quay lưng lại, còn Hổ thì lại vươn đầu lên, gia đình sẽ sinh nghịch nhân.

HUYỀN VŨ PHÁP
Huyền Vũ là đồi, núi ở đằng sau huyệt.
Huyền Vũ tròn hay vuông thì gia đình giàu có và thọ.
Kiêng kỵ: Huyền Vũ thấp mỏng, bị gió thổi. Huyền Vũ không được thô và lấn át huyệt.
(Châu Tước là các gò đống ở trước huyệt)

ÁN SƠN PHÁP
Án có nghĩa là một địa thế, như một bán giấy ngồi trước mặt người ngồi. Án không nên quá cao hoặc quá thấp. huyệt gần án thì phát nhanh hơn là khi xa án.
Cổ nhân xem huyệt là chủ, án là khách, khách chủ tương kính nhau mới là tốt.

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT CẦN BIẾT
Đất màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo, nửa nạc nửa mỡ thì tốt.
Đất đen, khô, rời vụn thì xấu, không có khí mạch.
Đất ngạnh, có đá cứng thì rất hung.
Nếu cả vùng đất đều bình thường như nhau, chỉ có một chỗ khác mịn, tươi hơn thì đó là đất tốt.
Đất khi khai huyệt có sinh vật như rùa, cá – tinh thuỷ của Thiên Địa – là đất tốt.
Trái lại, đất có rắn, chuột, sâu bọ, kiến là đất xấu.

SƠ ĐỒ ĐỊA LINH NƯỚC VIỆT
TỔ SƠN: Hy Mã Lạp Sơn (Nguyên Khí đi theo sông Cửu long)
THIẾU SƠN: Dãy Trường Sơn (Nguyên khí đi theo song Cửu Long)
ĐỊA LINH CHÍNH ĐỂ DỰNG CÁC THỦ ĐÔ: Thăng Long (Rồng thăng), cố đô Huế
MINH ĐƯỜNGTHANH LONG, BẠCH HỔ: Biển Đông với chỗ thuỷ tụ của nó
ÁN: Có người cho rằng án của Việt nam chính là Philippines và cũng có người cho là đảo Hải Nam -TQ

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

luyện bùa ngãi

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHÚ :Cùng với các phương pháp luyện Bùa ,Ngải người ta cọn phải đọc các câu Chú (Nếu câu Chú thuộc loại linh thiêng người ta gọi là Thần Chú. ).Bùa,Ngải...nếu không có Chú thí không linh nghiệm.Chú thực ra là một loại Bùa bằng lời nói để dẫn dụ tập tĩnh,phối hợp thí lực khí mới mạnh.Trong việc đọc Chú người ta dùng rất nhiều loại Ngôn ngữ khác nhau,tất cả những Ngôn ngữ đó gọi là Chú.Ta cần phân biệt :Tụng là đọc cho rơ ràng,có thể nghe được;Trì là quán tưởng những lời nói trong đầu,đây là cấp độ cao hơn của tụng.Bùa,Chú,Ngải liên hệ mật thiết đến nhau,không thể chia cắt được.Trong các Tôn giáo cũng có thực hiện rất nhiều bài,câu Chú.Tôn giáo là Đạo ,bùa chú chỉ là Thuật , Thuật mà không có Đạo không thể là cưú cánh đưa con người đến Vô ngă giải thoát được .
Bùa chú là pháp thuật được các Đấng Thiêng liêng truyền dạy xuống Thế để cứu giúp chúng sanh ,nhưng bởi ví có kẻ tốt người xấu khi Thọ phù ,mà Huyền thuật như con dao 2 lưỡi ,có thể giúp và hại đời.

VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐỌC CHÚ !
Nói đến Chú pháp tức là có liên hệ tới Thần linh , các vị thiêng liêng , thiết tưởng nên vài dòng nói về sự kiêng cữ , nên hay không những ǵi ?Để kẻ Trí đạt được hiệu quả khả quan vậy !
Nhà Phật dạy cữ tỏi , hành , hẹ , nén , kiệu , gọi chung là ngũ vị tân . Kẻ đọc Kinh,Trì ,Chú mà dùng những thức ấy nhiều th́i bớt linh nghiệm ví nó làm tăng lòng dục và uế trược không tinh khiết Thánh Thần xa lánh .
Người Trì Chú cấm kỵ bất hiếu hỗn hào với cha mẹ thí phép không linh .
Người Tŕi Chú tuyệt đối cấm kỵ lấy vợ (chồng) phá gia cang kẻ khác , nếu phạm mà Trì có thể còn tác hại ngược lại , ví dụ trước đây không biết mà phạm nay giác ngộ th́i vẩn Trì được như thường đừng tái phạm .
Người Trì chú xin đừng nói những lời nguyền rủa , trù ẻo người khác v́ì do Trì Chú lâu năm khẩu có thần ứng , nếu mình quở người ta có khi người ta bị thiệt ḿình mang nghiệp tổn âm đức lắm .
Người Trì Chú càng ít giao hoan thì càng linh diệu v́i tích Tinh , dưỡng Khí thì Thần mới sung măn và Điển lực thần chú mới mạnh .
Người Trì Chú thường Trì theo tứ thời :Tý , Ngọ ,Mẹo ,Dậu thí linh nghiệm , tốt . Nhưng khi đă Trì lâu năm thì không còn ý niệm về thời gian nữa và không cần ngồi trước Đạo tràng , Bàn thờ . Khi đi đứng nằm ngồi đều được cả .Còn mới luyện th́i trước khi Trì nên tắm gội , súc miệng sạch sẽ , nhang đèn lể bái rồi trì thí tốt .
Người Trì Chú nên siêng năng , tinh tấn đừng đọc vài ngày rồi bỏ sẽ quen mà lười luôn , cần mỗi ngày đều có đọc là tốt , ví dụ như đọc 3 ngày , mỗi ngày ngồi lâu 1 tiếng rồi ngưng 5 , 6 bữa không tốt và linh bằng đọc liên tục 1 tuần mổi ngày chỉ cần 10 phút thôi ."
Phù Chú có rất nhiều loại,mang đậm màu sắc Tôn giáo từ thời Cổ đại,nhiều câu Chú không ai hiểu nổi là nói gí ?Nhưng đại đa số thường là dịch theo âm,trong đó Chú Đại bi của nhà Phật là một điển hình .Lời Chú được nhập từ bên ngoài vào,ngoài tác dụng về mặt Tín ngưỡng,còn giúp cho con người ta thả lỏng cơ thể,nhập Tĩnh.Thực ra đó là một loại Khí công bằng lời.Trong Đạo Phật có Phái Mật tông giáo là phái hay thực hiện các câu Chú.Mật tông Phật giáo chia ra 5 bộ :
1) Linh phù , đàn pháp Phật bộ do chư Phật giới thiệu hay tuyên thuyết.
2) Linh phù , đàn pháp Liên hoa bộ do chư Bồ tát từ sơ Địa đến Thập Địa giới thiệu , tuyên thuyết.
3) Linh phù , đàn pháp Kim cang bộ do chư vị Kim cang Thánh chúng , hoặc Bát vạn tứ Thiên Kim cang thần giới thiệu , tuyên thuyết dưới các hính thức Kim cang phẫn nộ , Kim cang Đại định v.v...( Kim cang bộ cũng tức là Phật bộ ).
4)Linh phù , đàn pháp bảo bộ do chư Thiên , Tiên chúng giới thiệu , tuyên tuyết ( bùa Lổ ban , Mao sơn , Côn luân , Vạn pháp qui tông v.v...).
5)Linh phù , đàn pháp yết ma bộ do chư Quỷ thần giới thiệu như các phái bùa ngải thiểu số Mán , Mường ,Hời (Chăm ),Rừng rú , Đồng cốt v.v..."

Làm cách nào để phân biệt những người có xài Bùa,Ngải ? "Người xài Bùa Ngải không có cách nhìn phân biệt; chỉ có người luyện Bùa Ngải thì nhìn có thể biết thôi : Mắt sáng quắc , ăn cơm , uống rượu hay vái lầm thầm , ăn uống kiêng cữ những thứ như : chó ,trâu ,mèo ,khỉ , dấp cá , ngọ om , khế , khi đang ngủ say có ai đến gần đầu nằm tự nhiên bật dậy , tỉnh giấc ."
"Người muốn tu tŕi theo Mật tông mà được phát huy hết công năng diệu dụng điều đầu tiên là phải thọ Tam quy y , Bồ tát đạo và được làm lể quán đảnh bởi A xà lê sư ( đại diện cho sự truyền thừa của thầy Tổ ) , bạn có thể nhờ bất cứ vị Lạt ma khả kính nào của Tây tạng nếu có duyên gặp , khi đó thân xác mình đă là đền thờ của chư Phật và Bồ tát thí bạn có thể hành trì bất cứ Đàn pháp nào cũng được không nhất thiết là chỉ linh ứng với mỗi Đàn pháp mà vị A xà lê đó hướng dẫn .Nói vậy không có nghĩa là người chưa được Quán đảnh thì́ Trì Chú không linh ! Đại bi , Lăng nghiêm , Thập chú cũng đều là kinh chú Mật tông đưa vào tịnh độ tông đó.Trong thời gian chờ cơ duyên có thầy Quán đảnh , Mật tông chú trọng Tam mật tương ưng , ( tay kiết ấn , miệng tŕi chú , tâm quán tưởng Linh phù hay Thánh phạn ) nếu bạn không rành về ấn pháp thí nên bắt căn bản ấn Kim cang quyền ( đầu ngón cái bấm ngay ngấn đeo nhẫn của ngón áp út nắm lại ) bằng cả hai tay hoặc 1 tay trái và tay mặt lần chuỗi định số biến (lần) cũng được , nhưng nhớ khi tập xong tay nào bắt ấn phải xả đảnh ( xả vuốt lên đầu ) để khỏi gây thương tích, kết oán với Linh giới xung quanh bên ngoài, và điều cần thiết nữa là phải trì AN THIÊN ĐỊA CHƠN NGÔN 7 lần để chư vị Thổ địa , Trạch thần không bị dao động , xáo trộn ví oai lực của Thần chú mình trì quá mạnh ."

NGÃI ÔNG CHÚA CHÀNG RÂU


(Sơne mụk prànăng).
Ngãi nầy mọc tại núi Cô Tô ,nghe nói là giống bên Miên đem qua ,tuy nhiên sau đó có người đem trồng lại gây giống tại núi Cấm .
Chúng ta từng nghe nói loại ngãi dùng nấu sáp sên vô hộp Sa nạp ,chính là loại ngãi dùng làm dầu xức như dầu cù là ,1 dạng sơ ne bùa tình của dân Kh'mer.
Nấu ngãi rất là gian nan ,trước tiên phải chọn ngày trồng ngãi xuống đất .Nuôi ngãi bằng lòng trắng trứng gà sau 100 ngày .Kế đó hàng ngày pháp sư phải ăn cơm bên cạnh cây ngãi và bón cho nó bằng cơm .Buổi tối phải lựa lúc vắng vẻ ra ngồi cạnh bụi ngãi thì thào với nó như với nhân tình ,nhân ngãi .
Tới giai đoạn pháp sư ngủ mộng thấy ngãi đến thăm mình với hình thức như 1 ông cụ già 80 tuổi !... Đặc điểm của cụ già nầy là lưỡi le dài ra khỏi mồm ,râu dài xoắn như rể cây ! Đó chính là thần ngãi ông chúa tràng râu đã đủ ngày giờ định hình mà về với thầy nuôi ngãi vậy .
Đây mới thực sự chính là giai đoạn quan trọng .Hàng đêm pháp sư phải dùng chính tinh khí của mình xạ vào cây ngãi .Trong 49 ngày liên tục .Và trong 49 ngày nầy,thầy tuyệt đối không được gần gũi chăn gối cùng phụ nữ .
Sau giai đoạn nầy ,thầy sẽ cắt rụi đi phần thân và lá ngãi rồi đem chôn dấu ở 1 nơi thật kín ,không được để ai thấy .Phần cây cắt đi nầy được bó trong 1 súc vải đen chôn dưới đất sâu .Có thể chôn dưới 1 cây đa hay cây cổ thụ to lớn càng hay .
Mỗi một trăm ngày thầy đều phải trở lại cúng cơm canh và gà cho ông chúa tràng râu ở tại cây cổ thụ nầy .Việc nầy coi như là gởi tổ tại đây .Về sau ,nếu thầy muốn truyền nghề cho đệ tử xin thâu ngãi ông chúa tràng râu về nối nghiệp thì phải làm mâm cơm đến lể tổ tại tại gốc cây nầy .
Vậy là coi như xong bước đầu .
Bước hai là phần củ ngãi còn lại tại nhà thầy .Đây mới chính là phần sử dụng làm việc phép tắc .Củ ngãi sau khi bị cắt đi phần thân ,ngày qua ngày nó sẽ dần dà trồi hẳn lên mặt đất ,muốn biết ngãi có mạnh không thì ta thấy có triệu chứng củ ngãi mọc ngược trở lên (chứ không mọc đâm xuống đất nữa) .Nhánh củ ngãi đâm ngược lên nầy lại có hình dáng tựa như dương vật đàn ông vậy .Hay có dạng như hai người ôm chầm lấy nhau ,như vậy là điềm báo cho ta biết ngãi đang rất mạnh sung sức .
Nếu thầy bẻ đi củ ngãi như dương vật đó vào đúng lúc có người cầu nhờ chuyện tình yêu thì người ấy mườiphần chắc chín rồi! Thầy sẽ nhai củ ngãi phun lên đầu và thổi vào miệng người đó .Kế đó chà ngãi vào trong 2 lòng bàn tay và bàn chân của họ .Quy định 1 ngày không được tắm .Sau đó họ phải tìm cơ hội đến hỏi cưới ngay người họ yêu .Tỉ lệ thành công là rất khả quan . Tôi lưu ý, ở đây chúng ta chỉ nói về vấn đề này 1 cách bình nhật ,không lạm bàn chuyện bá đạo .
Cũng cần nói thêm là ngãi ông chúa tràng râu chỉ độ cho duyên tình của đàn ông con trai,cho dù là ông già 80 cũng được .Nhưng không phù hợp để độ cho phái nữ ( việc ấy đã có ngãi bà chúa đội đèn ,trong bài sau tôi sẽ đề cập và giới thiệu về loại ngãi nầy )
Ở đây tôi chỉ trình bày hình chụp củ ngãi trồi lên như dương vật ,không có chụp hình cành lá,tuy nhiên đó là vì lý do tế nhị mà tôi nghĩ là không nên gây sự tò mò quá đáng cho 1 số đọc giả .Quí bạn chú ý cây nầy lá nó giống như lá cây chuối vậy ,mà đầu tàu lá nó nhọn…bông màu đỏ mọc thành chùm tại nách lá….Phần linh thiêng của cây ngãi ở đây chính là cái phần hình gù như dương vật ấy ,còn các chi phần khác của cây hoàn toàn không làm bùa phép được .
Nhưng có 1 vấn đề ở đây là sau khi bẻ nhánh củ ngãi ấy trong vòng 3 hôm ,nếu không có ai đến nhờ ,thì hồn ngãi trong củ sẽ đi về cây đa mà thầy từng chôn cây ngãi khi xưa ! Củ ngãi trở nên vô hiệu quả ! Không hơn gì 1 củ gừng!
Vì vậy cho nên mới có thuật nấu sáp sên ngãi là vậy .Thầy ngãi phải nấu củ ngãi nầy sên thần chú cột ngãi lại với mình .Trước tiên thầy phải đi tìm 1 chốn gần nhà mình khuất lấp với tầm mắt những người tò mò .
Thầy cũng cần thêm 1 sư huynh đệ hay học trò trợ lực với mình trong chuyện nấu ngãi .Dụng cụ nấu ngãi gồm 1 cái nồi đất củ nấu cơm đã từng khét 9 lần (đàn bà chửa nấu thì không xài được ),củi mọc rụng tại bờ nước về phía đông ,1 cục sáp ong to như nắm tay ,1 cây đèn cầy ,3 cái trứng gà ,nước dãi con gà trống tơ mới biết gáy ( quẹt trên cái lá chuối ),5 cái trui chứa cơm nếp ,có giắt bông dừa vô ( cái trui là lá cây cuốn lại như cái phểu ). Và tuyệt đối không được nấu ngãi trong nhà ,trong khi nấu không để đàn bà con gái ngó thấy .Cũng không để ai kêu tên mình trong lúc nấu !
Thời gian nấu ngãi là 3 ngày đêm ( khởi sự trước rằm 3 hôm , đêm rằm 16 là chấm dứt nấu ) .Chỗ nấu phải là gò cao mà cây che rậm rạp không để nắng chiếu vào .
Đầu tiên thầy bước 3 bước lấy chiều dài của cạnh nơi nấu ,rồi đóng 4 cậy cọc làm địa giới 4 phía .Cần phải có dây chỉ ngũ sắc cột vòng quanh 4 cây nầy như hàng rào vậy
Củi chuẩn bị và nồi nấu để tại trung tâm. Khi người nấu bước vào sẽ theo hướng mặt trời lặn và trở ra hướng mặt trời mọc .Băm nhỏ củ ngãi bằng cật tre già ,cạo nhuyễn cục sáp ong và cây đèn cầy ,cho lòng trắng của 3 trứng gà vô ,hoà nước dãi gà trống … Tất cả để hết vô cái nồi đất .5 cái trui để cúng phía trước nồi độ nửa thước .Khi ngồi nấu phải quay mặt về phía đông
Khi nấu phải ngồi chồm hổm và không được nói chuyện ,không để lửa tắt ,phải niệm thần chú ngãi liên tục ! Khi có người thay thế mình đi ra ,phải cầm cũi đang cháy đưa tận tay rồi mới được đứng dậy đi .3 ngày đêm nấu liên tục, ngãi và các chất sẽ cô lại như 1 loại sáp có mùi rất gợi dục !
Sau khi sáp đã thành công ,thầy sẽ vét sáp ra khỏi nồi cho vào các hộp nhỏ bằng gỗ màu đen hay nâu(gọi là cục măc muc) .Khi cho sáp vào phải đọc thần chú đóng nắp cũng đọc thần chú ,gọi là mặc căặp (tuyệt đối không cho sáp vào hộp vuông hay bằng kim loại ) sở dĩ như vậy là vì cái hộp có 2 miếng âm dương ghép lại .Miếng có gờ xoắn ốc vặn vào là miếng đực ,miếng chịu gờ khắn vô gọi là miếng cái .Hình như có loại gỗ đặc biệt riêng để làm loại hộp nầy.
Sáp cho vào hộp gỗ như vậy có thể giữ sự linh thiêng lại rất lâu ( có thể là 3 năm sau)…tối đa thầy chỉ tạo được 3 hộp cho mỗi lần nấu ,nhiều lắm là 5 hộp mà thôi ,không nhiều hơn .Vậy là sau mỗi lần nấu chỉ có 3 hay 5 người thỉnh sáp ngãi dùng mà thôi .Thầy không được dùng ,tuy nhiên có thể cho bà con hay người nhà của thầy dùng hay bất kì ai muốn thỉnh !
Thông thường thì giá rất cao ! vì sáp ngãi nầy rất nhạy và thu hút nữ giới .Người xài nó thường xức vô lược chải đầu khi đi chim gái ,cái kị là chải từ trái qua phải. Tức là ai có thói quen rẻ ngôi tóc thì phải chãi rẻ ngược lại .
Nếu muốn chài cho kì được đối tượng thì người dùng sẽ chà sáp ngãi vô 2 lòng bàn tay ,sau đó nhổ ít nước bọt vào ,xát 2 bàn tay cho nóng lên .Tìm cách lấy bàn tay tiếp xúc trực tiếp chạm vào đối tượng, vậy là sự thu hút kì lạ sẽ xảy ra !
Các cấm kị là không được để rơi hộp sáp xuống đất ,ngãi sẽ nhập thổ ngay lập tức ! không còn linh nữa ! Thứ nhì là mang hộp ngãi trong người đi vào chỗ đám ma ,chôn cất, ngãi cũng mất linh ngay !
Ngãi tình không kị dơ ,nhưng chỉ kị chỗ âm khí nặng mà thôi .
Tuỳ theo đạo đức riêng từng thầy mà có lời dặn khác nhau cho người thỉnh sáp ngãi .Có thầy cho phép người xài lấy được 3 cô gái ,có thầy nói nếu ở có thai thì phải lấy làm vợ ,không được bỏ. Nếu bỏ hay phá thai thì sau nầy có con sẽ bị mù mắt hay bán nam bán nữ, con gái sẽ bị đi làm đĩ điếm ,con trai sẽ bỏ xứ mà đi .
Khi người xài sáp ngãi trên trăm ngày phải mang hộp trả lại lại cho thầy. Có khi làm bậy bạ nhiều quá ,thầy biết được liền tự thân đến đòi lại, hay có khi người thỉnh sáp nằm mơ thấy bị thầy quở trách !


Một hộp sáp ngãi như vậy không thể xài cho nhiều người ,thầy sên tên tuổi ai vô chỉ người đó dùng ,người khác dùng sẽ bị nhức đầu hành sổ mũi chảy nước cả ngày. Trường hợp cô gái bị lậm ngãi quá nặng (do gia đình không chấp nhận cho cưới), hoặc có khi người nhà cô gái biết nguồn gốc, họ sẽ đến năn nỉ ông thầy .Lúc bây giờ thầy ngãi sẽ kêu người dùng sáp đến thu lại cái hộp (đây là sự sắp xếp riêng giữa thầy và người thỉnh phép ). Thầy giải phép yêu mê nầy bằng cách tách cái hộp ra 2 phần …1 phần bỏ xuống giếng sâu, 1 phần đem liệng vào dưới đít bàn thờ tổ hay gốc cây đa .Sau vài ngày cô gái liền không còn yêu mê người kia nữa !
Trường hợp người thỉnh sáp không nghe và cãi lại lời thầy ,sau khi đem hộp sáp về bỗng nhiên hộp nứt bể lúc nào không hay ,sáp trong đó bỗng nhiên hoá ra chất nước nhờn chảy hết ra ngoài, không còn xài được ! Trường hợp nầy gọi là khôt krou ,tức là hư bùa ,bể phép !
Cũng lắm khi cô gái bị lậm ngãi quá nặng ,mà bất ngờ người xài ngãi lại bị tai nạn mất tích hay chết bất kỳ tử ,mang theo cả hộp sáp xuống âm ty ! Bấy giờ thầy ngãi có khi không biết mà giải phép. Về phần cô gái bị lậm ngãi có thể sẽ sống suốt cuộc đời còn lại mà chịu lấy ai khác .Nếu thiếu người yêu sẽ gào la than khóc điên dại ,bỏ ăn bỏ uống đến gầy rạc như xương khô mà chết. Cái câu "yêu cho đến chết” chính là 1 thuật ngữ dùng để ám chỉ người lậm sáp ngãi hết gỡ nỗi, không phải chỉ là câu nói chơi( việc nầy hay xảy ra tại địa bàn Kam pu chia hay Thái Lan mà thôi, ở Việt Nam không có ai nấu cái nầy mà xài ! vì "chăm cu lê" lắm!)
Không phải năm nào ngãi ông chúa tràng râu củng trổ nhánh ngược ,cho nên đôi khi mấy năm mới có ngãi mà nấu sáp như vậy 1 lần. Lắm phen đang nấu mà có việc quan trọng phải bỏ dở dang nửa chừng ! cho nên giá thỉnh 1 hộp sáp ngãi tình như vậy rất ư là mắc mỏ !