ĐỊNH NGHĨA VỀ CHÚ :Cùng với các phương pháp luyện Bùa ,Ngải người ta cọn phải đọc các câu Chú (Nếu câu Chú thuộc loại linh thiêng người ta gọi là Thần Chú. ).Bùa,Ngải...nếu không có Chú thí không linh nghiệm.Chú thực ra là một loại Bùa bằng lời nói để dẫn dụ tập tĩnh,phối hợp thí lực khí mới mạnh.Trong việc đọc Chú người ta dùng rất nhiều loại Ngôn ngữ khác nhau,tất cả những Ngôn ngữ đó gọi là Chú.Ta cần phân biệt :Tụng là đọc cho rơ ràng,có thể nghe được;Trì là quán tưởng những lời nói trong đầu,đây là cấp độ cao hơn của tụng.Bùa,Chú,Ngải liên hệ mật thiết đến nhau,không thể chia cắt được.Trong các Tôn giáo cũng có thực hiện rất nhiều bài,câu Chú.Tôn giáo là Đạo ,bùa chú chỉ là Thuật , Thuật mà không có Đạo không thể là cưú cánh đưa con người đến Vô ngă giải thoát được .
Bùa chú là pháp thuật được các Đấng Thiêng liêng truyền dạy xuống Thế để cứu giúp chúng sanh ,nhưng bởi ví có kẻ tốt người xấu khi Thọ phù ,mà Huyền thuật như con dao 2 lưỡi ,có thể giúp và hại đời.
VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐỌC CHÚ !
Nói đến Chú pháp tức là có liên hệ tới Thần linh , các vị thiêng liêng , thiết tưởng nên vài dòng nói về sự kiêng cữ , nên hay không những ǵi ?Để kẻ Trí đạt được hiệu quả khả quan vậy !
Nhà Phật dạy cữ tỏi , hành , hẹ , nén , kiệu , gọi chung là ngũ vị tân . Kẻ đọc Kinh,Trì ,Chú mà dùng những thức ấy nhiều th́i bớt linh nghiệm ví nó làm tăng lòng dục và uế trược không tinh khiết Thánh Thần xa lánh .
Người Trì Chú cấm kỵ bất hiếu hỗn hào với cha mẹ thí phép không linh .
Người Tŕi Chú tuyệt đối cấm kỵ lấy vợ (chồng) phá gia cang kẻ khác , nếu phạm mà Trì có thể còn tác hại ngược lại , ví dụ trước đây không biết mà phạm nay giác ngộ th́i vẩn Trì được như thường đừng tái phạm .
Người Trì chú xin đừng nói những lời nguyền rủa , trù ẻo người khác v́ì do Trì Chú lâu năm khẩu có thần ứng , nếu mình quở người ta có khi người ta bị thiệt ḿình mang nghiệp tổn âm đức lắm .
Người Trì Chú càng ít giao hoan thì càng linh diệu v́i tích Tinh , dưỡng Khí thì Thần mới sung măn và Điển lực thần chú mới mạnh .
Người Trì Chú thường Trì theo tứ thời :Tý , Ngọ ,Mẹo ,Dậu thí linh nghiệm , tốt . Nhưng khi đă Trì lâu năm thì không còn ý niệm về thời gian nữa và không cần ngồi trước Đạo tràng , Bàn thờ . Khi đi đứng nằm ngồi đều được cả .Còn mới luyện th́i trước khi Trì nên tắm gội , súc miệng sạch sẽ , nhang đèn lể bái rồi trì thí tốt .
Người Trì Chú nên siêng năng , tinh tấn đừng đọc vài ngày rồi bỏ sẽ quen mà lười luôn , cần mỗi ngày đều có đọc là tốt , ví dụ như đọc 3 ngày , mỗi ngày ngồi lâu 1 tiếng rồi ngưng 5 , 6 bữa không tốt và linh bằng đọc liên tục 1 tuần mổi ngày chỉ cần 10 phút thôi ."
Phù Chú có rất nhiều loại,mang đậm màu sắc Tôn giáo từ thời Cổ đại,nhiều câu Chú không ai hiểu nổi là nói gí ?Nhưng đại đa số thường là dịch theo âm,trong đó Chú Đại bi của nhà Phật là một điển hình .Lời Chú được nhập từ bên ngoài vào,ngoài tác dụng về mặt Tín ngưỡng,còn giúp cho con người ta thả lỏng cơ thể,nhập Tĩnh.Thực ra đó là một loại Khí công bằng lời.Trong Đạo Phật có Phái Mật tông giáo là phái hay thực hiện các câu Chú.Mật tông Phật giáo chia ra 5 bộ :
1) Linh phù , đàn pháp Phật bộ do chư Phật giới thiệu hay tuyên thuyết.
2) Linh phù , đàn pháp Liên hoa bộ do chư Bồ tát từ sơ Địa đến Thập Địa giới thiệu , tuyên thuyết.
3) Linh phù , đàn pháp Kim cang bộ do chư vị Kim cang Thánh chúng , hoặc Bát vạn tứ Thiên Kim cang thần giới thiệu , tuyên thuyết dưới các hính thức Kim cang phẫn nộ , Kim cang Đại định v.v...( Kim cang bộ cũng tức là Phật bộ ).
4)Linh phù , đàn pháp bảo bộ do chư Thiên , Tiên chúng giới thiệu , tuyên tuyết ( bùa Lổ ban , Mao sơn , Côn luân , Vạn pháp qui tông v.v...).
5)Linh phù , đàn pháp yết ma bộ do chư Quỷ thần giới thiệu như các phái bùa ngải thiểu số Mán , Mường ,Hời (Chăm ),Rừng rú , Đồng cốt v.v..."
Làm cách nào để phân biệt những người có xài Bùa,Ngải ? "Người xài Bùa Ngải không có cách nhìn phân biệt; chỉ có người luyện Bùa Ngải thì nhìn có thể biết thôi : Mắt sáng quắc , ăn cơm , uống rượu hay vái lầm thầm , ăn uống kiêng cữ những thứ như : chó ,trâu ,mèo ,khỉ , dấp cá , ngọ om , khế , khi đang ngủ say có ai đến gần đầu nằm tự nhiên bật dậy , tỉnh giấc ."
"Người muốn tu tŕi theo Mật tông mà được phát huy hết công năng diệu dụng điều đầu tiên là phải thọ Tam quy y , Bồ tát đạo và được làm lể quán đảnh bởi A xà lê sư ( đại diện cho sự truyền thừa của thầy Tổ ) , bạn có thể nhờ bất cứ vị Lạt ma khả kính nào của Tây tạng nếu có duyên gặp , khi đó thân xác mình đă là đền thờ của chư Phật và Bồ tát thí bạn có thể hành trì bất cứ Đàn pháp nào cũng được không nhất thiết là chỉ linh ứng với mỗi Đàn pháp mà vị A xà lê đó hướng dẫn .Nói vậy không có nghĩa là người chưa được Quán đảnh thì́ Trì Chú không linh ! Đại bi , Lăng nghiêm , Thập chú cũng đều là kinh chú Mật tông đưa vào tịnh độ tông đó.Trong thời gian chờ cơ duyên có thầy Quán đảnh , Mật tông chú trọng Tam mật tương ưng , ( tay kiết ấn , miệng tŕi chú , tâm quán tưởng Linh phù hay Thánh phạn ) nếu bạn không rành về ấn pháp thí nên bắt căn bản ấn Kim cang quyền ( đầu ngón cái bấm ngay ngấn đeo nhẫn của ngón áp út nắm lại ) bằng cả hai tay hoặc 1 tay trái và tay mặt lần chuỗi định số biến (lần) cũng được , nhưng nhớ khi tập xong tay nào bắt ấn phải xả đảnh ( xả vuốt lên đầu ) để khỏi gây thương tích, kết oán với Linh giới xung quanh bên ngoài, và điều cần thiết nữa là phải trì AN THIÊN ĐỊA CHƠN NGÔN 7 lần để chư vị Thổ địa , Trạch thần không bị dao động , xáo trộn ví oai lực của Thần chú mình trì quá mạnh ."
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÙA CHÚ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÙA CHÚ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010
Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010
độn giáp kiếm đấu 1
ĐỘN GIÁP KIỀM ĐẦU
1.THANH SỬ VỀ CỤC DỒN LẠI:
Đời Thượng cổ Vua Hoàng đế sai ông Phong hậu là ra Độn giáp 1030 Cục. Đến cụ
Thanh sử là Thái công bỏ bớt những cái phiền mà tóm tắt lại những cốt yếu.
2.TRƯƠNG TỬ PHÒNG 18 CỤC ĐẶT RA:
Đến đời Hán, ông Trương Tử Phòng làm sách ĐỘN GIÁP bí lược, dồn thành 18 cục,
để xem binh gia thắng thua và các việc Quốc gia - Thiên thời – nhân sự hay dở cát hung.
3.KIỀN KHẢM CẤN CHẤN TỐN LY KHÔN ĐOÀI: thể định bát quái cho rõ.
Kiền ở cung Tuất Hợi, phương Tây Bắc.
Khảm cung Tý phương bắc.
Cấn cung Sửu Dần, phương Đông Bắc.
Chấn cung Mão, phương Đông.
Tốn cung Thìn Tỵ, phương Đông Nam.
Ly cung Ngọ, phương Nam.
Khôn cung Mùi Thân, phương Tây Nam.
Đoài cung Dậu, phương Tây.
4.HƯU SINH THƯƠNG ĐỖ CẢNH TỬ KINH KHAI: tên gọi bát môn.
Hưu thủy môn ở nhất Khảm.
Sinh Thổ môn ở bát Cấn.
Thương Mộc môn ở Tam Chấn.
Đỗ Mộc môn ở tứ Tốn.
Cảnh Hỏa môn ở cửu Ly.
Tử Thổ môn ở nhị Khôn.
Kinh Kim môn ở thất Đoài.
Khai Kim môn ở lục Kiền.
5. LẤY BA NGUYÊN ĐỊNH BA CỤC TRƯỚC:
Ngày Giáp Tý, Giáp Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Dậu là đầu thượng nguyên là thượng cục.
Ngày Giáp Dần Giáp Thân, Kỷ Tị Kỷ Hợi là đầu trung nguyên trung cục. Ngày Giáp Thìn
Giáp Tuất, Kỷ Sửu Kỷ Mùi là đầu hạ nguyên là Hạ cục gọi là ba nguyên ba cục.
6.CHÍN TINH VÀO CHÍN CUNG:
Chín cung là: Khảm 1, Khôn 2, chấn 3, Tốn 4, Trung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Chín Tinh là: 1-Thiên Bồng Thủy, 2-Thiên Nhậm Thổ, 3-Thiên xung Mộc, 4-Thiên
Phụ Mộc, 5-Thiên Anh Hỏa, 6 Thiên Nhuế Thổ, 7-Thiên Trụ Kim, 8-Thiên tâm Kim, 9-
Thiên Cầm Thổ. Tham lang Thiên bồng ở khảm thủy, Cự môn Thiên nhuế ở nhị khôn Thổ
cung, Lộc Tồn Thiên xung ở tam chấn Mộc cung, Văn khúc Thiên phụ ở tứ Tốn Mộc
cung, Liêm Trinh Thiên cầm ở 5 Trung Thổ cung, Vú khúc Thiên Tâm ở Lục Kiền Kim
cung, Phá quân Thiên trụ ở Đoài 7 cung, tả phù Thiên nhậm ở Cấn thổ 8 cung, Hữu bật
Thiên Ương ( có sách gọi là thiên anh) ở Ly hỏa 9 cung.
7.ĐÔNG CHÍ TỪ KHẢM ĐẾN LY DƯƠNG ĐỘN THUẬN CHO HIỂU:
Tiết đông chí là nhất dương sinh khởi từ khảm 1, khôn 2, chấn 3….cho đến Ly 9 như
thế là dương thuận ở Độn.
8.HẠ CHÍ TỪ LY ĐẾN KHẢM ÂM ĐỘN NGHỊCH BIẾT QUA:
Hạ chí là tiết nhất âm sinh, độn khởi từ cửu Ly, bát cấn, thất đoài….cho đến khảm 1,
như thế âm nghịch độn.
9.MỖI NGUYÊN 5 NGÀY LÀ 1 CỤC:
Lục giáp định ra ba Nguyên, mỗi Nguyên 5 ngày một lần đổi. Thí dụ: ngày Giáp Tý
đến Mậu Thìn 5 ngày là 1 Nguyên là Thượng cục. Ngày Kỷ Tỵ đến Quý Dậu 5 ngày là 1
Nguyên, là Trung cục. Ngày Giáp Tuất đến Mậu Dần 5 ngày là 1 Nguyên là Hạ cục.
10.TRỰC PHÙ 10 GIỜ MỘT LẦN THAY:
Trực phù dung làm quan phù đầu Lục giáp, cứ hết 10 giờ lại một lần thay.
Thí dụ: ngày Giáp Tý Đông chí thượng nguyên dương độn 1 cục, giờ Giáp Tý thì lục
Mậu Thiên bồng là Trực phù gia ở Khảm. Giờ Ất Sửu thì Lục Mậu thiên bồng trực phù gia
thời can ở Ly 9, giờ Bính Dần thì Lục Mậu Thiên bồng Trực phù gia thời can ở Cấn
8……cho đến giờ Quý Dậu. 10 giờ Trực phù đều gia vào Thời can như vậy. Trực sử cũng
cứ 10 giờ một lần thay.
11.LỤC GIÁP LÀM QUAN LỤC NGHI PHÙ ĐẦU: Trời đất một đường khai cục.
Lục giáp là quan Luc nghi là:
Giáp Tý thì Lục Mậu. Giáp Ngọ thì Lục Tân
Giáp Tuất thì Lục Kỷ Giáp Thìn thì Lục Nhâm.
Giáp Thân thì Lục Canh Giáp Dần thì Lục Quý.
Thế thì Lục giáp là quan lục nghi Phù đầu (tuy là Trực phù nhưng có Thiên thượng
trực phù là Trực phù trên Thiên bàn và Địa hạ Trực phù là Trực phù của Địa bàn), dùng
tinh Âm đến Dương độn khác nhau.
12.LỤC NGHI VỚI TAM KỲ THUẬN NGHỊCH: âm dương theo hai lối dưới đây.
Dương độn thì Lục nghi thuận hành, mà Tam kỳ nghịch hành. Âm độn thì Lục nghi
nghịch hành mà Tam kỳ thuận hành. Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý là Lục nghi, Ất Bính
Đinh là tam kỳ. Âm Dương độn trước đều khởi Lục nghi, rồi mới đến Tam kỳ.
13.MÔN KIA LÀ KHÁCH:
Hưu Sinh Thương Đỗ Cảnh Tử Kinh Khai là Bát môn.
Môn là Trực sử, Trực sử là Khách, xuất hành đến nhà người ta mà thấy Môn hợp
vượng tướng thì tốt, nếu thấy Môn bị Tù Phế đãi sát hay là khắc nhập thì xấu.
14.PHÙ NÀY LÀ CHÍNH CHỦ:
Phù đầu là Trực phù, như Giáp Tý thì Lục Mậu, Giáp Tuất là Lục Kỷ…làm Trực phù.
Xem trăm việc hoặc ở nhà, ở doanh trại thấy Trực phù sinh hợp vượng tướng thì tốt, nếu
Tù Tử Phế thì hung.
15. TRỰC PHÙ XÉT PHÙ ĐẦU DỰ ĐOÁN CÁT HUNG:
1.Giáp Tý Mậu là trực phù: Mậu nghi thuộc Thổ, tướng ở 4 tháng Thìn Tuất Sửu Mùi
thuộc Thổ là đồng loại, vượng ở tháng Thân Dậu thuộc Kim là ta sinh ra. Gặp Vượng
Tướng là tốt.
Tù: ở tháng Tỵ Ngọ thuộc Hỏa (Nguyệt sinh ta thì Tù).
Tử: ở tháng Dần Mão thuộc Mộc (Nguyệt khắc ta thì Tử).
Hưu: ở tháng Hợi Tý thuộc Thủy (Nguyệt bị ta khắc thì Hưu)
Nếu bị Tù, Tử, Hưu là xấu.
2.Giáp Tuất Lục kỷ: làm trực phù, Kỷ cũng thuộc Thổ cùng như Lục Mậu ở trên.
3.Giáp Thân Lục Canh là trực phù: Canh Nghi thuộc Kim:
Tướng: ở tháng Thân Dậu là cùng loại.
Vượng: ở tháng Hợi Tý.
Tù: ở tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Tử ở tháng Tỵ Ngọ.
Hưu: ở tháng Dần Mão.
4.Giáp Ngọ Lục Tân: là trực phù, Nghi Tân thuộc Kim cũng như Canh ở trên.
5.Giáp Thìn Lục Nhâm làm trực phù: Nghi Nhâm thuộc Thủy.
Tướng ở tháng Hợi Tý.
Vượng ở tháng Dần Mão.
Tù ở tháng Thân Dậu.
Tử ở tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Hưu ở tháng Tỵ Ngọ.
6.Giáp Dần Quý: là trực phù. Quý nghi thủy cũng như Lục nhâm ở trên.
Lục Nhâm gặp Vượng Tướng mà lại gặp Lục Canh ở Âm Dương hai bàn trên dưới
thì trong sự tốt lành cũng xảy ra việc trộm cướp (Lục Nghi vượng Tướng mà gặp Lục
Canh ở bàn Âm Dương trên dưới tự dưng có người đến trói).
Tử: có nghĩa là tử tang.
Tù: có nghĩa là giam hãm, thường hay gặp quan sự.
Hưu: có nghĩa là bệnh nạn.
Xét lục nghi để biết dở hay:
1.Mậu Kỷ làm Trực phù, xem trong nhà thì Mậu Kỳ là mình, ta khắc là thê tài, khắc
ta là quan quỷ, ta sinh Canh Tân là con cháu, Bính Đinh sinh ta là cha mẹ, Mậu kỷ đồng
hành với ta là huynh đệ.
Xem trong quân, ta khắc nhâm quý là binh khí, ta sinh Canh tân là quân sĩ, đồng loại
Mậy Kỷ là tướng tá, Giáp ất khắc ta là quan quỷ (vượng tướng là Quan, hưu tù là Quỷ).
2.Canh tân làm trực phù: xem trong nhà thì Canh Tân là mình, ta khắc Lục ất là thê
tài, ta sinh Nhâm Quý là con cháu, đồng loại Canh Tân là huynh đệ, Bính Đinh khắc ta là
Quan Quỷ, Mậu Kỷ sinh ta là cha mẹ,.
Xem trong quân: ta khắc Lục Ất là binh khí, ta sinh Nhâm Quý là quân sĩ, đồng loại
Canh Tân là tướng tan gang hang., khắc ta Bính Đinh là Quan Quỷ, sinh ta Mậu Kỷ là Ấn
Thụ.
3.Nhâm Quý là trực phù: xem trong nhà, Trực phù là mình, ta khắc Bính Đinh là thê
tài, ta sinh Lục ất là con cháu, đồng loại nhâm quý là huynh đệ, khắc ta Mậu Kỷ là Quan
Quỷ, sinh ta Canh Tân là cha mẹ.
Xem trong quân: ta khắc Bính Đinh là binh khí, ta sinh Lục ất là quân sĩ, đồng loại
Nhâm Quý là bằng hữu, khắc ta Mậu Kỷ là Quan Quỷ, sinh ta Canh Tân là ấn thụ.
1.THANH SỬ VỀ CỤC DỒN LẠI:
Đời Thượng cổ Vua Hoàng đế sai ông Phong hậu là ra Độn giáp 1030 Cục. Đến cụ
Thanh sử là Thái công bỏ bớt những cái phiền mà tóm tắt lại những cốt yếu.
2.TRƯƠNG TỬ PHÒNG 18 CỤC ĐẶT RA:
Đến đời Hán, ông Trương Tử Phòng làm sách ĐỘN GIÁP bí lược, dồn thành 18 cục,
để xem binh gia thắng thua và các việc Quốc gia - Thiên thời – nhân sự hay dở cát hung.
3.KIỀN KHẢM CẤN CHẤN TỐN LY KHÔN ĐOÀI: thể định bát quái cho rõ.
Kiền ở cung Tuất Hợi, phương Tây Bắc.
Khảm cung Tý phương bắc.
Cấn cung Sửu Dần, phương Đông Bắc.
Chấn cung Mão, phương Đông.
Tốn cung Thìn Tỵ, phương Đông Nam.
Ly cung Ngọ, phương Nam.
Khôn cung Mùi Thân, phương Tây Nam.
Đoài cung Dậu, phương Tây.
4.HƯU SINH THƯƠNG ĐỖ CẢNH TỬ KINH KHAI: tên gọi bát môn.
Hưu thủy môn ở nhất Khảm.
Sinh Thổ môn ở bát Cấn.
Thương Mộc môn ở Tam Chấn.
Đỗ Mộc môn ở tứ Tốn.
Cảnh Hỏa môn ở cửu Ly.
Tử Thổ môn ở nhị Khôn.
Kinh Kim môn ở thất Đoài.
Khai Kim môn ở lục Kiền.
5. LẤY BA NGUYÊN ĐỊNH BA CỤC TRƯỚC:
Ngày Giáp Tý, Giáp Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Dậu là đầu thượng nguyên là thượng cục.
Ngày Giáp Dần Giáp Thân, Kỷ Tị Kỷ Hợi là đầu trung nguyên trung cục. Ngày Giáp Thìn
Giáp Tuất, Kỷ Sửu Kỷ Mùi là đầu hạ nguyên là Hạ cục gọi là ba nguyên ba cục.
6.CHÍN TINH VÀO CHÍN CUNG:
Chín cung là: Khảm 1, Khôn 2, chấn 3, Tốn 4, Trung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Chín Tinh là: 1-Thiên Bồng Thủy, 2-Thiên Nhậm Thổ, 3-Thiên xung Mộc, 4-Thiên
Phụ Mộc, 5-Thiên Anh Hỏa, 6 Thiên Nhuế Thổ, 7-Thiên Trụ Kim, 8-Thiên tâm Kim, 9-
Thiên Cầm Thổ. Tham lang Thiên bồng ở khảm thủy, Cự môn Thiên nhuế ở nhị khôn Thổ
cung, Lộc Tồn Thiên xung ở tam chấn Mộc cung, Văn khúc Thiên phụ ở tứ Tốn Mộc
cung, Liêm Trinh Thiên cầm ở 5 Trung Thổ cung, Vú khúc Thiên Tâm ở Lục Kiền Kim
cung, Phá quân Thiên trụ ở Đoài 7 cung, tả phù Thiên nhậm ở Cấn thổ 8 cung, Hữu bật
Thiên Ương ( có sách gọi là thiên anh) ở Ly hỏa 9 cung.
7.ĐÔNG CHÍ TỪ KHẢM ĐẾN LY DƯƠNG ĐỘN THUẬN CHO HIỂU:
Tiết đông chí là nhất dương sinh khởi từ khảm 1, khôn 2, chấn 3….cho đến Ly 9 như
thế là dương thuận ở Độn.
8.HẠ CHÍ TỪ LY ĐẾN KHẢM ÂM ĐỘN NGHỊCH BIẾT QUA:
Hạ chí là tiết nhất âm sinh, độn khởi từ cửu Ly, bát cấn, thất đoài….cho đến khảm 1,
như thế âm nghịch độn.
9.MỖI NGUYÊN 5 NGÀY LÀ 1 CỤC:
Lục giáp định ra ba Nguyên, mỗi Nguyên 5 ngày một lần đổi. Thí dụ: ngày Giáp Tý
đến Mậu Thìn 5 ngày là 1 Nguyên là Thượng cục. Ngày Kỷ Tỵ đến Quý Dậu 5 ngày là 1
Nguyên, là Trung cục. Ngày Giáp Tuất đến Mậu Dần 5 ngày là 1 Nguyên là Hạ cục.
10.TRỰC PHÙ 10 GIỜ MỘT LẦN THAY:
Trực phù dung làm quan phù đầu Lục giáp, cứ hết 10 giờ lại một lần thay.
Thí dụ: ngày Giáp Tý Đông chí thượng nguyên dương độn 1 cục, giờ Giáp Tý thì lục
Mậu Thiên bồng là Trực phù gia ở Khảm. Giờ Ất Sửu thì Lục Mậu thiên bồng trực phù gia
thời can ở Ly 9, giờ Bính Dần thì Lục Mậu Thiên bồng Trực phù gia thời can ở Cấn
8……cho đến giờ Quý Dậu. 10 giờ Trực phù đều gia vào Thời can như vậy. Trực sử cũng
cứ 10 giờ một lần thay.
11.LỤC GIÁP LÀM QUAN LỤC NGHI PHÙ ĐẦU: Trời đất một đường khai cục.
Lục giáp là quan Luc nghi là:
Giáp Tý thì Lục Mậu. Giáp Ngọ thì Lục Tân
Giáp Tuất thì Lục Kỷ Giáp Thìn thì Lục Nhâm.
Giáp Thân thì Lục Canh Giáp Dần thì Lục Quý.
Thế thì Lục giáp là quan lục nghi Phù đầu (tuy là Trực phù nhưng có Thiên thượng
trực phù là Trực phù trên Thiên bàn và Địa hạ Trực phù là Trực phù của Địa bàn), dùng
tinh Âm đến Dương độn khác nhau.
12.LỤC NGHI VỚI TAM KỲ THUẬN NGHỊCH: âm dương theo hai lối dưới đây.
Dương độn thì Lục nghi thuận hành, mà Tam kỳ nghịch hành. Âm độn thì Lục nghi
nghịch hành mà Tam kỳ thuận hành. Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý là Lục nghi, Ất Bính
Đinh là tam kỳ. Âm Dương độn trước đều khởi Lục nghi, rồi mới đến Tam kỳ.
13.MÔN KIA LÀ KHÁCH:
Hưu Sinh Thương Đỗ Cảnh Tử Kinh Khai là Bát môn.
Môn là Trực sử, Trực sử là Khách, xuất hành đến nhà người ta mà thấy Môn hợp
vượng tướng thì tốt, nếu thấy Môn bị Tù Phế đãi sát hay là khắc nhập thì xấu.
14.PHÙ NÀY LÀ CHÍNH CHỦ:
Phù đầu là Trực phù, như Giáp Tý thì Lục Mậu, Giáp Tuất là Lục Kỷ…làm Trực phù.
Xem trăm việc hoặc ở nhà, ở doanh trại thấy Trực phù sinh hợp vượng tướng thì tốt, nếu
Tù Tử Phế thì hung.
15. TRỰC PHÙ XÉT PHÙ ĐẦU DỰ ĐOÁN CÁT HUNG:
1.Giáp Tý Mậu là trực phù: Mậu nghi thuộc Thổ, tướng ở 4 tháng Thìn Tuất Sửu Mùi
thuộc Thổ là đồng loại, vượng ở tháng Thân Dậu thuộc Kim là ta sinh ra. Gặp Vượng
Tướng là tốt.
Tù: ở tháng Tỵ Ngọ thuộc Hỏa (Nguyệt sinh ta thì Tù).
Tử: ở tháng Dần Mão thuộc Mộc (Nguyệt khắc ta thì Tử).
Hưu: ở tháng Hợi Tý thuộc Thủy (Nguyệt bị ta khắc thì Hưu)
Nếu bị Tù, Tử, Hưu là xấu.
2.Giáp Tuất Lục kỷ: làm trực phù, Kỷ cũng thuộc Thổ cùng như Lục Mậu ở trên.
3.Giáp Thân Lục Canh là trực phù: Canh Nghi thuộc Kim:
Tướng: ở tháng Thân Dậu là cùng loại.
Vượng: ở tháng Hợi Tý.
Tù: ở tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Tử ở tháng Tỵ Ngọ.
Hưu: ở tháng Dần Mão.
4.Giáp Ngọ Lục Tân: là trực phù, Nghi Tân thuộc Kim cũng như Canh ở trên.
5.Giáp Thìn Lục Nhâm làm trực phù: Nghi Nhâm thuộc Thủy.
Tướng ở tháng Hợi Tý.
Vượng ở tháng Dần Mão.
Tù ở tháng Thân Dậu.
Tử ở tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Hưu ở tháng Tỵ Ngọ.
6.Giáp Dần Quý: là trực phù. Quý nghi thủy cũng như Lục nhâm ở trên.
Lục Nhâm gặp Vượng Tướng mà lại gặp Lục Canh ở Âm Dương hai bàn trên dưới
thì trong sự tốt lành cũng xảy ra việc trộm cướp (Lục Nghi vượng Tướng mà gặp Lục
Canh ở bàn Âm Dương trên dưới tự dưng có người đến trói).
Tử: có nghĩa là tử tang.
Tù: có nghĩa là giam hãm, thường hay gặp quan sự.
Hưu: có nghĩa là bệnh nạn.
Xét lục nghi để biết dở hay:
1.Mậu Kỷ làm Trực phù, xem trong nhà thì Mậu Kỳ là mình, ta khắc là thê tài, khắc
ta là quan quỷ, ta sinh Canh Tân là con cháu, Bính Đinh sinh ta là cha mẹ, Mậu kỷ đồng
hành với ta là huynh đệ.
Xem trong quân, ta khắc nhâm quý là binh khí, ta sinh Canh tân là quân sĩ, đồng loại
Mậy Kỷ là tướng tá, Giáp ất khắc ta là quan quỷ (vượng tướng là Quan, hưu tù là Quỷ).
2.Canh tân làm trực phù: xem trong nhà thì Canh Tân là mình, ta khắc Lục ất là thê
tài, ta sinh Nhâm Quý là con cháu, đồng loại Canh Tân là huynh đệ, Bính Đinh khắc ta là
Quan Quỷ, Mậu Kỷ sinh ta là cha mẹ,.
Xem trong quân: ta khắc Lục Ất là binh khí, ta sinh Nhâm Quý là quân sĩ, đồng loại
Canh Tân là tướng tan gang hang., khắc ta Bính Đinh là Quan Quỷ, sinh ta Mậu Kỷ là Ấn
Thụ.
3.Nhâm Quý là trực phù: xem trong nhà, Trực phù là mình, ta khắc Bính Đinh là thê
tài, ta sinh Lục ất là con cháu, đồng loại nhâm quý là huynh đệ, khắc ta Mậu Kỷ là Quan
Quỷ, sinh ta Canh Tân là cha mẹ.
Xem trong quân: ta khắc Bính Đinh là binh khí, ta sinh Lục ất là quân sĩ, đồng loại
Nhâm Quý là bằng hữu, khắc ta Mậu Kỷ là Quan Quỷ, sinh ta Canh Tân là ấn thụ.
thư yểm

ĐỊNH NGHĨA THƯ -ẾM (YỂM )-TRÙ.
Nói chung người Trung hoa,người Việt,Miên,Lào,Chàm,Thượng...và hầu hết các dân tộc trên Thế giới đều có thực hiện những việc này.Mục đích là chủ ý làm hại một người khác mà mình không ưa,cũng có một số người v́ì danh ,lợi mà đi hại người khác.
Người TQ thường sử dụng những h́ình nhân bằng gỗ hay vải,ghi tên người cần hại,dán vào đó một lá Bùa và đọc Thần chú để cho người bị hại đau bệnh hay chết.Có một số trường hợp người ta dùng cung dâu,bắn vào hính nhân,dùng kim đâm vào tim của hính nhân và nhỏ vào đó các giọt máu.
Một cách khác là họ chọn thời gian nửa đêm,các giờ Sát tử,giờ Trùng tang liên táng mà kêu tên tuổi của người cần hại,rồi đọc chú sai những Linh hồn vất vưởng mà họ đă luyện phép đi hại người.
Trong các nghề,có nghề thợ mộc cũng hay dùng cách ếm nhà của người ta.Khi gặp chủ nhà nào đối xử không tốt,họ dùng cách đẽo lộn đầu kèo nhà,vẽ hính nhân trên đầu cột cái,hoặc đóng đinh vào trên đấu cột cái.
Người Chàm thường dùng cách ếm là dùng một mảnh giấy đỏ,viết tên tuổi kẻ định hại và đặt dưới chân ông Táo sau đó đọc câu Thần chú nhất định.Người bị ếm sẽ cảm thấy nóng nảy,điên cuồng mà chết.Người Việt thí đơn giản hơn là dùng ngay h́nh ảnh của kẻ đó mà đọc chú và yểm dưới chân ông Táo.Ngoài ra người Chàm cọn dùng cách :Lấy hính của kẻ cần ếm,nhét vào bụng một con cá lóc và đọc chú rồi đem thả xuống sông.
Bất cứ Môn phái nào cũng có cách ếm đối, trù rủa của họ , chuyện thiện làm thì cần công sức nhọc thân chứ chuyện ác thì dễ lắm , cứu người thì khó mà hại người thí dễ quá cũng như xây cái nhà lên thí tốn thời gian chứ đập nó xuống thí chỉ tíc tắc thôi , vì Hung thần lúc nào cũng ở gần ta hơn Phúc , Hỷ thần ..
Phái Hời (Lâm ấp, Chiêm thành) ở Phan rang , Phan rí v.v...có môn ếm rất ghê rợn và linh nghiệm ,khi muốn giết hết nhà người nào đó thì họ đếm coi bao nhiêu người trong nhà tất cả ? sau đó chạng vạng tối họ ra rừng kiếm 1 nhánh cây có số lá tương xứng với số người nhà đó có , sau đó cầm nhành cây đó hướng về hướng nhà kẻ có thù cùng họ đó mà niệm chú nguyền rủa bằng những lời vô cùng độc địa , tàn khốc 7 lần hoặc 9 lần rồi nín thở dùng tay tuốt lá trên nhành cây đó , bao nhiêu cái lá rụng là bấy nhiêu người chết , nếu rụng hết là không c̣òn người nào sống sót .
Phái Lổ ban sát thần phù khi muốn ếm chết (tử sát ếm) th́i ông thầy đó phải cắt lấy máu mình vẽ bùa , rồi chôn trước nhà người đó hay ếm vô họng kèo ,đ̣on vông v.v... hoặc kiếm cách nhét trong nhà dấu kín .
"Về phần thư , thuốc đa số người Miên (khơ-me krom) và Chà châu giang ở miền tây và miệt 7 núi đều tinh thâm , ở miệt Thất sơn từ núi Bà (núi Sam) qua ông Cấm , ông Tô , núi Tượng , núi Dài v.v......Tri tôn , Xà tón và xuống cả miền Hà tiên , Lục sơn qua Miên đều có sử dụng.
Bùa phép của người Khơ-me dùng tiếng Nam phạn (pali) bắt nguồn từ miền Nam Ấn độ , do ảnh hưởng du nhập của Phật giáo nguyên thủy giống như các nước lân bang : Lào , Thái , Tích lan v.v...và cộng thêm tín ngưỡng balamôn giáo thời các vương quốc Phù nam , Chămpa nên huyền thuật của họ rất đa dạng , kỳ bí và lắm tông nhiều phái được người Miên gọi chung nôm na là BÀLÂY (pali) Những chuyện như : nuôi 1 cái râu cọp cắm vào mục măng trong khạp da bò chôn dưới đất thời gian sau vài tuần sẽ biến thành con sâu rồi lấy phân nó làm thuốc độc , hoặc lấy 3 con thằn lằn đục thân cây đu đủ bỏ vào đọc thần chú nhét lại thân cây sau 100 ngày đến lấy tán bột phơi khô dùng làm thuốc độc giết người trong vô sắc vô vị quả là có thật , và còn nhiều và rất nhiều cách thức trong thiên nhiên có thể giết người cũng như cứu người , có người còn sai được con ruồi , lằn xanh chân tẩm độc dược bay đến nhà kẻ mính muốn giết mà đậu vào đồ ăn mà đầu độc kẻ ấy v.v...
Cọn rất nhiều loại khác như :Bùa thương thí các phái đều như nhau Chà , Miên , Xiêm , Mẹ sanh , Lổ ban , Lào , Mọi , Hời (Chăm pa )đều có phép thương và bí phương tu luyện bản môn , ông thầy nào chịu khổ luyện thí sắc , ví dụ như bùa thương phái Chà luyện 100 ngày , sau đó dùng lưỡi họa bóng vô tay đến nắm tay cô nào thì cô đó say đắm mà theo , nếu luyện cao hơn nữa chỉ cần vẽ vô giấy vo lại liệng trúng nàng nào thì nàng đó cũng cuốn gói đi theo luôn , cọn bùa thương phái Mẹ sanh luyện 100 ngày đọc vuốt con gà mái đang ấp mê ổ cũng chạy theo mình (huống gí con gái )."
Ta cũng thường nghe nói đến các hiện tượng chết trùng,chẳng hạn như một Gia đình liên tiếp có người chết,có khi còn chết sạch cả nhà.
Các bạn đọc lại bài báo sau đây để suy nghĩ :
"4 cái chết bí ẩn trong một gia đ́ình ở Thái Bính (26/09/2002).
Thời gian gần đây, dư luận Thái B́inh xôn xao về việc xẩy ra nhiều cái chết bí ẩn ở một gia đ́ình thuộc huyện Kiến Xương, Thái B́inh. Chỉ trong một thời gian ngắn, 4 người trong gia đ́nh đột nhiên tử vong với những triệu chứng giống nhau. Các bác sỹ bó tay, không tìm ra nguyên nhân. Không những thế, gia súc, gia cầm nuôi trong nhà cũng bị chết không rõ nguyên nhân.
Đó là chuyện xẩy ra tại gia đình ông Trần Quang Rạng (64 tuổi) và bà Nguyễn Thị Đáo (61 tuổi) ở xóm 9 Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình .Ông bà Rạng sống bình thường giống như những gia đính nông thôn khác ở vùng quê chuyên độc canh cây lúa. Ngôi nhà của ông bà nằm sâu giữa xóm .Cây cối trong vườn xanh tốt, hoa trái sum sê bốn mùa .Mọi thành viên trong gia đính đều khoẻ mạnh .Tám người con (4 trai, 4 gái) của ông bà đều sinh ra và lớn lên ở đây. Hầu hết các con của ông bà đă có gia đình và ra ở riêng. Duy nhất còn anh Trần Quang Việt (sinh năm 1965) hiện đang làm ở Nhà máy xay Thái B́inh chưa lấy vợ .Anh Trần Quang Biết (sinh năm 1971) mới lấy vợ và đang làm ăn ở trong Nam. Hai anh còn lại đă có gia thất ở quanh khu đất của ông bà, người phía trước, người phía sau.
Không rõ nguyên nhân gí, anh Trần Quang Việt (sinh năm 1969) con trai thứ 2 bỗng mắc một căn bệnh kỳ lạ, cứ ở nhà là lăn ra ngủ ly bì .Cho tới tháng 3 năm 2001, sau khi lên cơn co giật, toàn thân tím tái rồi anh qua đời để lại một người vợ trẻ và đứa con lên 9 tuổi. Đến 20/5/2002 ông Rạng đang khoẻ mạnh là vậy bỗng lên cơn co giật, gia đình vội đưa đi viện nhưng cũng không cứu nổi . Ngày 28/8/2002, anh Trần Quang Út (sinh năm 1973) bỗng thấy trong người khác lạ rồi không biết gì nữa .Chị Vũ Thị Nhung (sinh nam 1975) vợ anh Ut quá sợ hăi khi thấy chồng cũng có biểu hiện như bố vội kêu mọi người đưa anh lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh .Ngay sau dó, chị cũng bị co giật và phải đi cấp cứu .Bà Đào hoang mang lo sợ khi thấy con trai và con dâu trong t́inh trạng giống của ông Rạng. Về nhà, bà vội thắp hương kêu khấn. Người anh con ông bác bà kể lại, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau khi kêu khấn, bà Đào cũng lên cơn co giật rồi chết. Hôm ấy là 31/8/2002 vào đúng 100 ngày mất của ông Rạng. Trong khi làm ba ngày cho bà thì cháu Trần Quốc Khánh sinh năm 1996, con trai duy nhất của anh Út cũng bị co giật, người tím đen .Gia đình khẩn trương đưa đi cấp cứu .Các bác sỹ cũng dành bó tay không tìm ra căn bệnh gì, hai giờ sáng 3/9/2002 cháu Khánh qua đời. Gia đình cho hay, cháu Khánh là một đứa bé rất kháu khỉnh, nhanh nhẹn, khoẻ mạnh chẳng bao giờ ốm đau.
Không chỉ 4 người trong nhà bị thiệt mạng mà gia súc gia cầm cũng bị rơi vào tình trạng trên. Tính ra còn có đến mấy chục con lợn, gà, vịt và mèo trong vài năm gần đây của gia đình ông Rạng, anh Út, anh Việt cũng lăn đùng ra chết Chúng chẳng có biểu hiện của bệnh tật gì cả . Lợn vừa ăn no xong, quay ra chết . Gà từ trong chuồng lao ra ngoài sân kêu quang quạc rồi chết bất đắc kỳ tử. Theo như lời anh Út (nay đă bình phục) kể lại, thì anh đă phải thay đến ba lần chuồng nuôi mà lợn dang tuổi ăn tuổi lớn tự dưng giăy lên đành đạch rồi chết.
Một loạt những cái chết không rõ nguyên nhân cho người và gia súc ở gia đính ông bà Rạng, làm nhân dân ở dây rất hoang mạng. Buổi tối, đàn bà con gái không dám ra khỏi nhà. Hoa trái trong vườn của ông bà chẳng ai dám ăn. Cây ổi bên cạnh chiếc Miếu, quả chín sai không ai dám vặt .Thậm chí cháu Bảo (sinh năm 1993) con anh Việt, gia đình phải gửi sang đằng ngoại bên xă Vũ Đông để tránh hoạ .Bởi không hiểu sao, cứ về đến nhà, cháu lại có triệu chứng ngủ li bì như bố.
Trước thực tế đau lòng đó và những tin đồn thất thiệt về những cái chết đầy bí ẩn của gia đính ông bà Rạng, ngày 10/9/2002 cán bộ Trung tâm y tế tỉnh đă khẩn trương xuống tận nơi để điều tra t́im hiểu nguyên nhận .Họ đă tiến hành lấy mẫu đất, mẫu nước trong khu vực gia đình ông Rạng về nghiên cứu, hiện chưa rõ kết quả. Sau khi điều tra, trung tâm sẽ cho nhân viên về phun thuốc diệt khuẩn toàn bộ khu vực gia đính ông Rạng trong thời gian tới.
Dư luận đang chờ đợi câu trả lời từ phía các nhà khoa học."
BÙA YÊU
Một người đàn ông đã nhận được tất cả các phụ nữ sống ở nhà cùng.
Cách kinh nghiệm,
nhúng vào uống nước để cung cấp cho vợ hay chồng hoặc người yêu để uống, ông sẽ yêu bạn chỉ.
hoặc
Những người làm việc vào ban đêm tại khu vực vui chơi giải trí giống như hầu hết.
Đi theo hình ảnh người và ghi tên vào hình ảnh và chèn vào các Phaya cầu nguyện và chúc anh ta để yêu thương bạn.
và có thể gọi cho phái nam và phái nữ tâm trí.
Katha:
Omphrayalumpong
Changgingorlermlong
Kloonggindorlermprai
(Name of your loved ones)
Ginyoomidai
Ronghai
Mahagu
Leumphor
Leummae Pooya
Tayai
Ompoochaosamingprai
Isuan
narai
piang sawaha
, bạn cũng có thể nhúng vào trong nước và cho anh ta / cô uống cho yêu thương bạn.
CHÚ KHAI QUAN- ĐIỂM NHẢN
CHÚ KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN .
Lấy một thau nước sạch –Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm.
Nhúng ông Địa hay Thân Tài vào tắm.Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng.
Cúng nhang,nến,nước lạnh cho Phật hay rươụ cho Thần.
Bắt ấn Tý và đọc chú khai quan :
CHÚ KHAI QUANG :
Phụng thỉnh Thổ Địa chi Thần
Hoặc –Phụng thỉnh Tài Thần.
Giáng hạ tại vị chứng minh –Kim vì ấn chú tên là ….Tuổi…Phát Tâm phụng thờ cốt vị.Xin ngài giáng hạ nhập vô –Hồn nhãn nhập nhãn –Hồn nhĩ nhập nhĩ –Hồn tâm nhập tâm –Túc bộ khai quờn –Tâm can,tì phế,thận –Cấp cấp linh linh.
Sau đó cầm ba cây nhang chỉ vào từng chỗ mà đọc :
Điểm nhãn nhãn thông minh .
Điểm nhĩ nhĩ thinh thinh.
Điểm khẩu khẩu năng thuyết.
Điểm phủ túc thông hành.
Cấp cấp như luật lệnh.
Khi quán tường tập luyện nhìn đèn cầy,nhìn nhang sao cho lá Bùa lọt toàn bộ vào trong ánh lửa.
Khi luyện phép xong phải nói 3 lần :Tống Thần –Tống Thần –Tống Thần.
Lấy một thau nước sạch –Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm.
Nhúng ông Địa hay Thân Tài vào tắm.Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng.
Cúng nhang,nến,nước lạnh cho Phật hay rươụ cho Thần.
Bắt ấn Tý và đọc chú khai quan :
CHÚ KHAI QUANG :
Phụng thỉnh Thổ Địa chi Thần
Hoặc –Phụng thỉnh Tài Thần.
Giáng hạ tại vị chứng minh –Kim vì ấn chú tên là ….Tuổi…Phát Tâm phụng thờ cốt vị.Xin ngài giáng hạ nhập vô –Hồn nhãn nhập nhãn –Hồn nhĩ nhập nhĩ –Hồn tâm nhập tâm –Túc bộ khai quờn –Tâm can,tì phế,thận –Cấp cấp linh linh.
Sau đó cầm ba cây nhang chỉ vào từng chỗ mà đọc :
Điểm nhãn nhãn thông minh .
Điểm nhĩ nhĩ thinh thinh.
Điểm khẩu khẩu năng thuyết.
Điểm phủ túc thông hành.
Cấp cấp như luật lệnh.
Khi quán tường tập luyện nhìn đèn cầy,nhìn nhang sao cho lá Bùa lọt toàn bộ vào trong ánh lửa.
Khi luyện phép xong phải nói 3 lần :Tống Thần –Tống Thần –Tống Thần.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)