Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

CỬU TINH TRONG HUYỀN KHÔNG PHI TINH

Theo trường phái Huyền Không thì mọi sự tương tác của các sự vật hiện tượng đều do Cửu Tinh (9 ngôi sao) cai quản và họ dựa trên Cửu tinh để suy luận cát hung. Huyền Không phái hay còn gọi là Huyền Không Phi Tinh là một trường phái xuất hiện từ lúc nào thì chưa thể xác định chính xác được. Mà theo sự ghi chép của những thư tịch cổ thì vào đới Hán, trong "Hán Thư, Văn nghệ chí" người ta thấy có mối quan hệ với các bài ca quyết của Huyền Không phái được ghi chép vào khoảng đời Đường trở về sau của các Phong Thuỷ Học như Dương Quân Tùng đời Đường (viết các cuốn: Thiên Ngọc Kinh, Thanh Nang Áo Ngữ, Đô Thiên Bảo Chiếu Kinh), Tăng Văn Sơn đời Đường (viết cuốn Thanh Nang Tự), Ngô Cảnh Loan đời Tống (viết các cuốn Huyền Không bí cấp, Huyền cơ phú) và đến cuối đời nhà Thanh cuốn Thẩm Thị Huyền Không Học được Thẩm Trúc Nhưng hoàn thiện lại toàn bộ học thuyết và công bố thì mọi người mới được biết rõ ràng. Và theo ghi chép của họ Thẩm trong cuốn sách thì trường phái này còn có các môn đồ như Vô Cực Tử, Tưởng Đại Hồng, Khương Thổ, Chương Trọng Sơn.

Huyền Không Học cũng lấy Dịch Học làm cơ sở, nguyên lý của nó là vạn vật dịch chuyển không ngừng. Ngoài ra không thể không áp dụng nguyên lý Âm Dương - Ngũ Hành làm cơ sở suy luận. Huyền Không Học còn sử dụng Hậu Thiên Bát Quái, tức sự phân bố bát quái do vua Văn Vương phát minh làm cơ sở
Theo Huyền Không phái, Cửu tinh đều có những đặc tính tốt xấu riêng:
+ 1 - Nhất Bạch Thuỷ Tinh : sao Văn Xương.

- Cát: Nếu Nhất Bạch là vượng tinh thì chủ về xuất thần đồng, người tài, văn nghiệp hiển hách, văn thần và vượng cả về nhân đinh và tài lộc.
- Hung: Nếu Nhất Bạch là suy tinh thì chủ về hoạ câm điếc, tạng thận hay các bệnh không sinh đẻ...trộm cướp, tửu sắc, hao tổn về người, tài sản lụn bại.

+ 2 - Nhị Hắc Thổ Tinh : sao Bệnh Phù.

- Cát: Nếu Nhị Hắc là vượng tinh thì chủ vượng về nhà cửa ruộng vườn, con cháu đông đúc, phát về võ (có tầm nhìn chiến lược).
- Hung: Nếu Nhị Hắc là suy tinh thì chủ về các bệnh ở bụng, bệnh ngoài da, tỳ vị, hoả tai, ngục hình, bị nữ nhân hay tiểu nhân hãm hại,tai nạn, xuất quả phụ, hao tổn về người, phá sản.

+ 3 - Tam Bích Mộc Tinh : sao Lộc Tồn.

- Cát: Nếu Tam Bích là vượng tinh thì chủ về sự nghiệp hưng vượng, được phú quý.
- Hung: Nếu Tam Bích là suy tinh thì chủ về các bệnh ở chân, gan, hình ngục, tai nạn, sự nghiệp lụn bại.

+ 4 - Tứ Lục Mộc Tinh : sao Văn Khúc.

- Cát: Nếu Tứ Lục là vượng tinh thì chủ về văn tài, công danh hiển hách, nhân đinh tài lộc đều tốt đẹp, vợ hiền, con gái xinh đẹp, văn nghệ giỏi, con gái trưởng phát đạt.
- Hung: Nếu Tứ Lục là suy tình thì chủ về bệnh ở đùi, mật hay bị sẩy thai, dâm loạn, tử sắc, trộm cướp.

+ 5 - Ngũ Hoàng Thổ Tinh : sao Chính Quan.

- Cát: Nếu Ngũ Hoàng là vượng tinh thì chủ về tài lộc nhân đinh đều vượng, phú quý song toàn.
- Hung: Nếu Ngũ Hoàng là hung tinh thì chủ về bệnh tỳ vị, vàng da, ung nhot, trúng độc, dâm ô nặng hơn hao người tốn của, phá gia bại sản.

+ 6 - Lục Bạch Kim Tinh : sao Vũ Khúc.

- Cát: Nếu Lục Bạch là vượng tinh thì chủ về giầu có, đông con nhiều cháu, quý hiển và có quyền hành về võ nghiệp.
- Hung: Nếu Lục Bạch là suy tinh thì chủ về bệnh ở đầu, phổi, xương cốt. Bị trộm cướp, ngục hình, cô độc hay tổn đinh.

+ 7 - Thất Xích Kim Tinh : sao Phá Quân.

- Cát: Nếu Thất Xích là vượng tinh thì chủ về tài đinh đều vượng, võ nghiệp phát, người con gái thứ phát đạt.
- Hung: Nếu Thất Xich là suy tinh thì chủ về các bệnh miệng, cổ, phổi. Hao tổn nữ đinh, trộm cướp, ngục tai, hoả tai, tiền bạc nhân đinh đều tổn hại.

+ 8 - Bát Bạch Thổ Tinh : sao Tả Phụ.

- Cát: Nếu Bát Bạch là vượng tinh thì chủ phát về ruộng đất nhà cửa, phát nhân đinh tài lộc, xuất trung thần, phú quý, trường thọ.
- Hung: Nếu Bát Bạch là suy tinh thì chủ về các bệnh ở tay, đầu, mũi, xương sống, tỳ vị, thần kinh, gân. Hao tổn nam đinh, tiền tài.

+ 9 - Cửu Tử Hoả Tinh : sao Hữu Bật.

- Cát: Nếu Cửu Tử là vượng tinh thì chủ vượng nhân đinh tài lộc, văn tài trung hiếu, quý hiển trường thọ.
- Hung: Nếu Cửu Tử là suy tinh thì chủ về các bệnh về mắt, tim, máu huyết, vô sinh, tuyệt tự, hoả tai, hao tổn tài lộc.

Việc ứng dụng những hiểu biết về Phong thuỷ vào thực tiễn còn đòi hỏi chúng ta có sự tổng hợp, đúc kết những tinh hoa của các trường phái với nhau để có sự lựa chọn hợp lý nhất cho mỗi trường hợp hay con người cụ thể.


Sau khi mình lấy hướng nhà theo bát trạch xong thì việc xác định các sao ở mổi cung là sao gì, để từ đó xem việc nơi nào có thể mở cửa, đặt giường ngủ, bàn làm việc , v.v...

LOAN ĐẦU

TẦM LONG TRÓC MẠCH
Nguyên khí còn gọi là Long, Long là một dạng Khí Tiên thiên, có tác dụng rất cơ bản đến sự sống các sinh vật.
Vấn đề là tìm nơi tụ Long. Để làm việc này cần tìm gốc của Long.
Trước hết Nguyên khí hay Khí Thiên giáng từ Trời xuống các đỉnh núi cao theo hình xoắn, như đỉnh núi Hymalaya, núi Tản Viên, núi Tam Đảo…
Con Người có đầu và huyệt Bác Hội để nhận (hút) khí Thiên vào trong cơ thể mình, thì Quả đất có những đỉnh núi cao cũng để nhận khí Thiên vào lòng đất đai.
Nơi Long xuất phát gọi là Tổ Sơn, nơi Long kết thúc gọi là Minh Đưòng.
Long phải có nước đi theo, vì nước là môi trường hấp thụ Long (ở nhiều nước, các nhà khoa học có nghiên cứu các đặc tính của nước có Trường sinh học, tức là có Long. Nước có chứa Long có sức căng mặt ngoài tăng lên).
Ngoài Tổ Sơn, Long còn có thể có những xuất phát điểm khác gọi là Thiếu Sơn. Như với Nguyên khí – Long mang theo bởi dòng Cửu Long Giang thì Hymalaya là Tổ Sơn, còn dãy Trường Sơn là Thiếu Sơn. Như thế đất nước ta là một Minh Đường rộng lớn mà Nguyên khí được cung cấp bởi hai loại anten lớn là Hymalaya và dãy Tràng Sơn.
Nguyên khí - bằng một cơ chế nào đó - được chuyển đến nhiều địa điểm khác nhau của đất nước ta như Núi Ba Vì và các nơi thờ Thánh Tản Viên , Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Thất Sơn, Yên Tử Sơn…

ĐIỂM HUYỆT
Các hình thể huyệt kết
Có bốn hình thể huyệt kết như sau:

Huyệt hình Oa thì tròn, huyệt hình Kiềm thì dài, huyệt hình Nhũ thì tròn, huyệt hình Đột thì dài.
Các huyệt Oa và Kiềm thì phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (ở núi đồi). Các huyệt Nhũ và Đột thường ở chỗ các mạch bình dương (ở những nơi có các độ cao chỗ thấp ít khác nhau, như ở các ruộng). Các huyệt trên còn gọi là kết Oa, kết Kiềm, kết Nhũ, kết Đột.
Huyệt ở chỗ quá cao thì sát, ở chỗ quá thấp thì yểu.

Nơi núi cao, cần điểm huyệt ở nơi vùng thấp, để tránh gió, do ở nơi cao gió sẽ tán khí.
Trái lại ở những nơi bình dương, cần điểm huyệt ở chỗ cao nhất, như tại các gò cao, tránh thuỷ phá.
Nếu có sắc thổ đẹp, có cây lá xanh tươi thì việc điểm huyệt ở nơi đó càng tốt.
Những nơi bằng phẳng, xung quanh cs thành cao là nơi điểm huyệt tốt.
Ở những núi đá không có huyệt. Nhưng nếu ở đó có chỗ vũng Oa thì nên điểm huyệt ở đó.

SƠN THUỶ PHÁP
Sơn thuỷ pháp là cách xem tướng đất để biết về người có liên quan.
Sơn chủ người, thuỷ chủ tiền của.
Núi đầy đặn sẽ sinh người mập mạp, núi đơn bạc sẽ sinh người gày ốm. Núi tinh sinh người tốt giỏi, núi ô trọc sinh người u mê.
Thuỷ tĩnh thì sinh người thanh tú, thuỷ chảy xiết thì sinh người nghèo khổ. Thuỷ dồn tụ thì sinh người giàu có.
Sơn lởm chởm là nơi có ác khí. Thuỷ chảy kêu réo là nơi hung.
Có sơn nhưng không có thuỷ gọi là cô sơn. Có thuỷ nhưng không có sơn gọi là cô thuỷ.

MINH ĐƯỜNG THUỶ PHÁP
Chỗ nước tụ trước huyệt gọi là Minh Đường. Có thể có một hay nhiều Minh Đường. Minh Đường gần huyệt nhất gọi là Nội Đường, Minh Đường xa huyệt nhất gọi là Ngoại Đường, Minh Đường ở giữa gọi là Trung Đường.
Có Minh Đường mới có huyệt kết, nếu không thì sẽ không có huyệt kết.
Minh Dường ngay ngắn thì con cháu hiền tài. Minh Đường nghiêng lệch thì con cháu du đưng, nghèo khó.
Minh Đường có nước tụ như nhà có chứa ngọc, còn Minh Đường có nước tiêu tan thì như nhà tán tài, điều đáng sợ nhất là Minh Đường có thể cạn nước về mùa thu.
Minh Đường nằm nghiêng thì tuy là quan được nhưng trước sau cũng bị cách chức hay thoái chức.
Minh Đường gần huyệt thì phát sớm. Minh đường xa huyệt thì phát chậm.
Minh đưòng thụ nước bên trái thì trai trưởng phát trước, tụ bên phải thì trai thứ phát trước (còn nữ thì sao?)
Nếu nước chảy từ Tây Bắc đến Đông Nam, thì cần cho huyệt hướng về phía nước tới, tức là về phía Tây Bắc, để hứng được tất cả nước từ xa đến.

LONG HỔ PHÁP
Xung quang huyệt có thể có những giải đất bao bọc huyệt, bảo vệ huyệt như chân tay bảo vệ cơ thể.
Giải bên trái gọi là Thanh Long hay Long, có nam tính.
Còn giải bên phải gọi là Bạch Hổ hay Hổ và có nữ tính (trai trái gái phải). Long cần phải dài, Hổ cần phải ngắn.
Long, Hổ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến con cái. Chẳng hạn Long chủ sinh con trai, văn quan, Hổ chủ sinh con gái, vũ tướng.
Nếu Long (nam) ôm lấy Hổ (nữ) thì địa thế rất quý.
Còn nếu Hổ (nữ) ôm lấy Long (nam) thì địa thế không hoàn chỉnh.
Nhiều Long, nhiều Hổ thì phát nhiều đời. Đơn Long, đơn Hổ thì chỉ phát một đời.
Hổ từ bên phải đến, kéo dài qua bên trái là Hổ nghịch. Long từ bên trái kéo dài qua bên phải là Long nghịch
Điều kị nhất là Long quay lưng lại, còn Hổ thì lại vươn đầu lên, gia đình sẽ sinh nghịch nhân.

HUYỀN VŨ PHÁP
Huyền Vũ là đồi, núi ở đằng sau huyệt.
Huyền Vũ tròn hay vuông thì gia đình giàu có và thọ.
Kiêng kỵ: Huyền Vũ thấp mỏng, bị gió thổi. Huyền Vũ không được thô và lấn át huyệt.
(Châu Tước là các gò đống ở trước huyệt)

ÁN SƠN PHÁP
Án có nghĩa là một địa thế, như một bán giấy ngồi trước mặt người ngồi. Án không nên quá cao hoặc quá thấp. huyệt gần án thì phát nhanh hơn là khi xa án.
Cổ nhân xem huyệt là chủ, án là khách, khách chủ tương kính nhau mới là tốt.

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT CẦN BIẾT
Đất màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo, nửa nạc nửa mỡ thì tốt.
Đất đen, khô, rời vụn thì xấu, không có khí mạch.
Đất ngạnh, có đá cứng thì rất hung.
Nếu cả vùng đất đều bình thường như nhau, chỉ có một chỗ khác mịn, tươi hơn thì đó là đất tốt.
Đất khi khai huyệt có sinh vật như rùa, cá – tinh thuỷ của Thiên Địa – là đất tốt.
Trái lại, đất có rắn, chuột, sâu bọ, kiến là đất xấu.

SƠ ĐỒ ĐỊA LINH NƯỚC VIỆT
TỔ SƠN: Hy Mã Lạp Sơn (Nguyên Khí đi theo sông Cửu long)
THIẾU SƠN: Dãy Trường Sơn (Nguyên khí đi theo song Cửu Long)
ĐỊA LINH CHÍNH ĐỂ DỰNG CÁC THỦ ĐÔ: Thăng Long (Rồng thăng), cố đô Huế
MINH ĐƯỜNGTHANH LONG, BẠCH HỔ: Biển Đông với chỗ thuỷ tụ của nó
ÁN: Có người cho rằng án của Việt nam chính là Philippines và cũng có người cho là đảo Hải Nam -TQ

Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

luyện bùa ngãi

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHÚ :Cùng với các phương pháp luyện Bùa ,Ngải người ta cọn phải đọc các câu Chú (Nếu câu Chú thuộc loại linh thiêng người ta gọi là Thần Chú. ).Bùa,Ngải...nếu không có Chú thí không linh nghiệm.Chú thực ra là một loại Bùa bằng lời nói để dẫn dụ tập tĩnh,phối hợp thí lực khí mới mạnh.Trong việc đọc Chú người ta dùng rất nhiều loại Ngôn ngữ khác nhau,tất cả những Ngôn ngữ đó gọi là Chú.Ta cần phân biệt :Tụng là đọc cho rơ ràng,có thể nghe được;Trì là quán tưởng những lời nói trong đầu,đây là cấp độ cao hơn của tụng.Bùa,Chú,Ngải liên hệ mật thiết đến nhau,không thể chia cắt được.Trong các Tôn giáo cũng có thực hiện rất nhiều bài,câu Chú.Tôn giáo là Đạo ,bùa chú chỉ là Thuật , Thuật mà không có Đạo không thể là cưú cánh đưa con người đến Vô ngă giải thoát được .
Bùa chú là pháp thuật được các Đấng Thiêng liêng truyền dạy xuống Thế để cứu giúp chúng sanh ,nhưng bởi ví có kẻ tốt người xấu khi Thọ phù ,mà Huyền thuật như con dao 2 lưỡi ,có thể giúp và hại đời.

VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐỌC CHÚ !
Nói đến Chú pháp tức là có liên hệ tới Thần linh , các vị thiêng liêng , thiết tưởng nên vài dòng nói về sự kiêng cữ , nên hay không những ǵi ?Để kẻ Trí đạt được hiệu quả khả quan vậy !
Nhà Phật dạy cữ tỏi , hành , hẹ , nén , kiệu , gọi chung là ngũ vị tân . Kẻ đọc Kinh,Trì ,Chú mà dùng những thức ấy nhiều th́i bớt linh nghiệm ví nó làm tăng lòng dục và uế trược không tinh khiết Thánh Thần xa lánh .
Người Trì Chú cấm kỵ bất hiếu hỗn hào với cha mẹ thí phép không linh .
Người Tŕi Chú tuyệt đối cấm kỵ lấy vợ (chồng) phá gia cang kẻ khác , nếu phạm mà Trì có thể còn tác hại ngược lại , ví dụ trước đây không biết mà phạm nay giác ngộ th́i vẩn Trì được như thường đừng tái phạm .
Người Trì chú xin đừng nói những lời nguyền rủa , trù ẻo người khác v́ì do Trì Chú lâu năm khẩu có thần ứng , nếu mình quở người ta có khi người ta bị thiệt ḿình mang nghiệp tổn âm đức lắm .
Người Trì Chú càng ít giao hoan thì càng linh diệu v́i tích Tinh , dưỡng Khí thì Thần mới sung măn và Điển lực thần chú mới mạnh .
Người Trì Chú thường Trì theo tứ thời :Tý , Ngọ ,Mẹo ,Dậu thí linh nghiệm , tốt . Nhưng khi đă Trì lâu năm thì không còn ý niệm về thời gian nữa và không cần ngồi trước Đạo tràng , Bàn thờ . Khi đi đứng nằm ngồi đều được cả .Còn mới luyện th́i trước khi Trì nên tắm gội , súc miệng sạch sẽ , nhang đèn lể bái rồi trì thí tốt .
Người Trì Chú nên siêng năng , tinh tấn đừng đọc vài ngày rồi bỏ sẽ quen mà lười luôn , cần mỗi ngày đều có đọc là tốt , ví dụ như đọc 3 ngày , mỗi ngày ngồi lâu 1 tiếng rồi ngưng 5 , 6 bữa không tốt và linh bằng đọc liên tục 1 tuần mổi ngày chỉ cần 10 phút thôi ."
Phù Chú có rất nhiều loại,mang đậm màu sắc Tôn giáo từ thời Cổ đại,nhiều câu Chú không ai hiểu nổi là nói gí ?Nhưng đại đa số thường là dịch theo âm,trong đó Chú Đại bi của nhà Phật là một điển hình .Lời Chú được nhập từ bên ngoài vào,ngoài tác dụng về mặt Tín ngưỡng,còn giúp cho con người ta thả lỏng cơ thể,nhập Tĩnh.Thực ra đó là một loại Khí công bằng lời.Trong Đạo Phật có Phái Mật tông giáo là phái hay thực hiện các câu Chú.Mật tông Phật giáo chia ra 5 bộ :
1) Linh phù , đàn pháp Phật bộ do chư Phật giới thiệu hay tuyên thuyết.
2) Linh phù , đàn pháp Liên hoa bộ do chư Bồ tát từ sơ Địa đến Thập Địa giới thiệu , tuyên thuyết.
3) Linh phù , đàn pháp Kim cang bộ do chư vị Kim cang Thánh chúng , hoặc Bát vạn tứ Thiên Kim cang thần giới thiệu , tuyên thuyết dưới các hính thức Kim cang phẫn nộ , Kim cang Đại định v.v...( Kim cang bộ cũng tức là Phật bộ ).
4)Linh phù , đàn pháp bảo bộ do chư Thiên , Tiên chúng giới thiệu , tuyên tuyết ( bùa Lổ ban , Mao sơn , Côn luân , Vạn pháp qui tông v.v...).
5)Linh phù , đàn pháp yết ma bộ do chư Quỷ thần giới thiệu như các phái bùa ngải thiểu số Mán , Mường ,Hời (Chăm ),Rừng rú , Đồng cốt v.v..."

Làm cách nào để phân biệt những người có xài Bùa,Ngải ? "Người xài Bùa Ngải không có cách nhìn phân biệt; chỉ có người luyện Bùa Ngải thì nhìn có thể biết thôi : Mắt sáng quắc , ăn cơm , uống rượu hay vái lầm thầm , ăn uống kiêng cữ những thứ như : chó ,trâu ,mèo ,khỉ , dấp cá , ngọ om , khế , khi đang ngủ say có ai đến gần đầu nằm tự nhiên bật dậy , tỉnh giấc ."
"Người muốn tu tŕi theo Mật tông mà được phát huy hết công năng diệu dụng điều đầu tiên là phải thọ Tam quy y , Bồ tát đạo và được làm lể quán đảnh bởi A xà lê sư ( đại diện cho sự truyền thừa của thầy Tổ ) , bạn có thể nhờ bất cứ vị Lạt ma khả kính nào của Tây tạng nếu có duyên gặp , khi đó thân xác mình đă là đền thờ của chư Phật và Bồ tát thí bạn có thể hành trì bất cứ Đàn pháp nào cũng được không nhất thiết là chỉ linh ứng với mỗi Đàn pháp mà vị A xà lê đó hướng dẫn .Nói vậy không có nghĩa là người chưa được Quán đảnh thì́ Trì Chú không linh ! Đại bi , Lăng nghiêm , Thập chú cũng đều là kinh chú Mật tông đưa vào tịnh độ tông đó.Trong thời gian chờ cơ duyên có thầy Quán đảnh , Mật tông chú trọng Tam mật tương ưng , ( tay kiết ấn , miệng tŕi chú , tâm quán tưởng Linh phù hay Thánh phạn ) nếu bạn không rành về ấn pháp thí nên bắt căn bản ấn Kim cang quyền ( đầu ngón cái bấm ngay ngấn đeo nhẫn của ngón áp út nắm lại ) bằng cả hai tay hoặc 1 tay trái và tay mặt lần chuỗi định số biến (lần) cũng được , nhưng nhớ khi tập xong tay nào bắt ấn phải xả đảnh ( xả vuốt lên đầu ) để khỏi gây thương tích, kết oán với Linh giới xung quanh bên ngoài, và điều cần thiết nữa là phải trì AN THIÊN ĐỊA CHƠN NGÔN 7 lần để chư vị Thổ địa , Trạch thần không bị dao động , xáo trộn ví oai lực của Thần chú mình trì quá mạnh ."