Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

NHỮNG BÀI THUỐC HAY

Thành phần:
Nho tươi 250 gam
Chè xanh 25 gam
Gừng tươi 250 gam
Mật ong vừa đủ

Cách làm:
Nho rửa sạch, bỏ cuống, nghiền nát, cho vào vải xô sạch vắt lấy nước để sẵn.
Gừng rửa sạch, thái vụn, cũng cho vào vải xô vắt lấy nước.
Ðể chè xanh trong cốc to, rót nước sôi, hãm trong ít phút, cho vào nước nho, nước gừng mỗi thứ 50ml, cho mật ong vừa phải.
Uống lúc nước còn nóng.

Công hiệu:
Giải cảm, giảm ho, ấm trung tiêu, chống nôn.

ứng dụng:
Ðiều trị cảm lạnh, phổi hư, ho và kiết lỵ trực khuẩn.


Củ cải-Mật ong

Thành phần:
Củ cải tươi 500 gam
Mật ong 150 gam

Cách làm:
Củ cải trắng rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa đến khi sôi thì vớt ra, để ráo nước, phơi nắng nửa ngày, lại cho vào nồi, đổ mật ong, đun nhỏ lửa, khô trộn đều là được. Chờ nguội đựng trong lọ kín, ăn sau bữa cơm.

Công hiệu:
Dễ tiêu hoá, điều hoà khí, tan đờm.

ứng dụng
Chữa ăn khó tiêu, đầy bụng, nôn mửa.

Viên thịt cà chua-phục linh

Thành phần:
Phục linh 500 gam
Tương cà chua 10 gam
Thịt lợn 15 gam
Rượu hoàng, đường trắng, muối tinh, hành, gừng, dầu thực vật vừa đủ.

Cách làm:
Phục linh loại bỏ tạp chất, làm sạch, nghiền thành bột. Thịt lợn băm vụn, cho hành, bột gừng, rượu, muối tinh, mì chính, đổ bột phục linh vào, trộn đều, sau đó lặn thành viên thịt đường kính 2 cm.

Ðổ dầu vào nồi, đun nhỏ lửa gần sôi, cho viên thịt vào rán, vớt ra.

Cho dầu vào lập là, đổ tương cà chua, đường trắng, muối tinh thành nước sốt cà chua, cho viên thịt vào, trộn đều với nước sốt, cho dầu thơm vừa đủ là được.

Công hiệu:
Lưu thông tuyến dịch, lợi thuỷ, thanh nhiệt mát máu.

ứng dụng:
Dùng cho người khó tiểu tiện, thuỷ thấp đình trệ, phù nề, cao huyết áp.

Mướp đắng xào mỡ lợn

Thành phần:
Mướp đắng 250 gam
Mỡ lợn 50 gam
Hành, gừng, muối, mì chính vừa đủ.

Cách làm:
Mướp đắng rửa sạch, đổ ra, bỏ hạt, thái sợi.
Ðun nóng chảo, đổ mỡ lợn, khi mỡ bốc khói, cho mướp vào, đảo lật tra tiếp hành, gừng, muối. Khi mướp đắng chín, múc ra đĩa.

Công hiệu:
Thanh nhiệt, nhuận tỳ, dưỡng gan sáng mắt, có công hiệu bổ thận.

ứng dụng:
Dùng cho người tỳ hư, thể lực yếu, đau mắt do nhiệt

Cháo chim cút

Thành phần:
- Thịt chim cút 150 gam
- Thịt lợn ba chỉ 50 gam
- Gạo tẻ 100 gam
- Ðậu đỏ nhỏ 50 gam
- Hành, gừng, muối tinh, nước luộc thịt, dầu vừng, bột hồ tiêu, mì chính vừa đủ.

Cách làm:
Thịt chim cút rửa sạch, bỏ trong bát, tra hành thái đoạn, bột gừng, muối tinh, thịt ba chỉ rửa sạch, đưa vào lông hấp đun to lửa đến khi nhừ, nhặt bỏ hành, gừng, để sẵn.

Gạo tẻ, đậu nhỏ đãi sạch, cùng cho vào nồi đổ nước luộc thịt, đun to lửa 1 giờ thành cháo, cho thịt chim cút, thịt lợn, tra đầu vừng, hạt tiêu bột, mì chính, đun thêm chốc lát là được.
Khi dùng, ăn thịt và húp nước cháo.

Công hiệu:
Mát phổi, dứt hen, tan đờm, giảm ho, điều hoà chức năng dạ dày, điều hoà khí.

ứng dụng:
Ðiều trị lao phổi, ho lâu ngày, thở hổn hển; rối loạn tiêu hoá, kém ăn, thắt lưng đầu gối đều mỏi.

Cạo gió

Cách làm: Dùng đồng xu hay thìa sứ chấm rượu cạo lưng, khuỷu tay, khoeo chân, gáy...

Chữa trị: Say nắng, chóng mặt hồi hộp, môn, hôn mê.

Lưu ý: Không dùng cho trẻ em dưới 3 tuổi.
Cạo gió dùng sức đều đặn, theo 1 hướng nhất định.
khi da đỏ có chấm tím là được.



Sắn dây

Rửa sạch, củ cạo bỏ vỏ, sấy 1 ngày đêm, phơi khô. Khi dùng thái nhỏ.
Vị ngọt, tính mát. Giải nhiệt, mát huyết, sinh tân dịch, khỏi khát, giải độc rượu.
Trị nóng sốt phát cuồng, cảm mạo, cúm, khát nước. Chữa ban sởi làm cho dễ mọc.
Trị say rượu.
Bột củ sắn dây uống sống tốt hơn là nấu chín.

GIEO GIÓ - GẶT BÃO

Cách đây 18 năm tại miền thượng du Bắc việt, giáp ranh trung Hia có một gia đình nọ chuyên môn ngãi độc để hại người cầu lợi cho mình.
Có thể nói nghề nuôi con ngãi độc của gia đình này gần như cha truyền con nối đến mấy đời dân trong vùng thỉnh thoảng vài năm lại có người chết vì bệnh lạ và cứ như vậy đời này sang đời khác mà không ai tìm ra nguyên nhân của căn bệnh. Hầu hết những người chết vì bệnh lạ đều giống nhau khi chết thì cả người bầm tím, tay chân quắp lại à mắt thì trợn lên trông thực dễ sợ.
Nhiều người mê tín dị đoan thì cho rằng vùng này bị ma hành quỷ lộng nên bày ra lễ lớn lễ nhỏ để cúng vái.
Cho đến một ngày nọ, cả một gia đìn sáu người ngã ra chết 5 người chỉ còn một người đàn bà độc nhất là không chết và cũng nhờ cái chết thảm của gia đình đó mà người ta phát hiện được những cái chết do đâu mà có.
Chuyện xảy ra như sau:
Gia đình ông Nhiếp là một gia đình giàu có nhất vùng, quanh năm tài vật dư ăn dư để, ông Nhiếp lại được tiéng tốt là lòng nhân ái biết cứu đời và gúp người nghèo khó.
Một gia đình được tiếng khen truyền đời như vậy thực là hiếm có nên dân trong vùng rất nể vì. Năm đó ông Nhiếp vào tuổi 45, ông có một vợ và 3 con trai, con trai đầu vừa đúng 23 tuổi và con út vừa tròn 16.
Người con trai đầu của ông Nhiếp tên là Nhiêm, vừa cưới vợ được gần 5 tháng, vợ của Nhiêm tên alf Lý và Lý chính là bắt nguồn của câu chuyện.
Từ ngày nàng Lý về nhà làm dâu nhà ông Nhiếp nàng bắt đầu khám phá ra gia đình nhà ông Nhiếp có một nếp sống kỳ lạ gần như bí ẩn, ngay đến cả người chồng đầu gối tay ấp của Lý cũng tỏ ra khó hiểu.
Tâm lý người đời là một khi thấy chuyện gì khó hiểu lạ lùng thì lại rất ưa tìm hiểu trường hợp của nàng Lý cũng vậy.
Nhiều khi Lý thủ thỉ hỏi chồng:
- Mình à! Hình như tôi thấy nhà mình có chuyện gì bí ẩn mà thấy mẹ cũng như mình cũng như mình và các chú đều giấu tôi phải không? Đã là chồng vợ thì mình nói cho tôi biết đi.
Nghe Lý hỏi, Nhiêm trả lời mập mờ rằng:
- Ối, có chuyện gì đâu mà bí ẩn, chẳng qua là chuyện làm ăn đó thôi, mình đừng có gấp tìm hiểu làm gì, một ngày nào rồi tôi sẽ kể cho mình nghe, chứ bây giờ thì chưa tiện.
- Mình bảo là không bí ẩn, mà tại sao mỗi lần tôi đi chợ thì thấy mẹ hoặc mình đều dặn bảo tôi mua nhiều thịt sống, nhưng khi mang thịt về thì không cho tôi nấu nướng lại mang lên nàh trên đưa vào bàn thời làm gì thế? Đã vậy cả nhà đều dặn và ngăn cấm không cho tôi vào nhà thờ là ý làm sao, không lẽ công chuyện làm ăn mà bí hiểm đến vậy sao? Vậy chớ thịt sống tôi mua về ai ăn mà hết?
Nhiều lần hỏi chồng như vậy và lần nào cũng bị chồng gạt đi để nói chuyện khác, nếu sự thắc mắc hoài nghi đối với Lý càng ngày càng lớn dần theo năm tháng, không dừng được, Lý răpó tâm tìm hiểu,> Một hôm sau khi đi chợ mua thit cho chồng rồi làm bộ đi ra nhà sau. Thấy vợ không quan tâm người chồng liền mang thịt heo lên nhà trên rồi đi vào bàn thờ dước bàn thờ có một chiếc lu lớn có đậy nắp cẩn thận, Nhiêm nhẹ nhàng thận trọng mở nắp lu lên miệng lẩm nhẩm đọc:

Lưỡng độc xà, lưỡng Độc xà
Mi ở nhà ta mi ở nhà ta
Đói ăn khát uống
Ta nuôi cho mi dống
Mi giúp cho ta nên
Tài lộc ta vững bền
Ta và mi cùng hưởng

đọc xong, Nhiêm thả thịt heo vào lu rồi đậy nắp lại bà thong thả đi ra nhà ngoài để làm những công việc nưh thường lệ và yên chí là vợ mình chẳng hề hay biết.
Nhưng Nhiêm đâu có ngờ rằng chính trong khi mà Nhiêm vào bàn thờ dỡ nắp lu lên miệng đọc lẩm nhẩn mấy câu thơ khó hiểu đó rồi bỏ thịt vào đạy nắp lu lại thì cũng chính là lúc mà Lý ở ngoài hè rình rập, dán hai mắt vào một lỗ nhỏ của vách nhà để nhìn những động tĩnh của Nhiêm, Lý đã thấy rõ tất cả.
Không thấy thì thôi, mà đã thấy thì Lý lại càng thắc mắc nhiều hơn nữa và chỉ mong cho cả nhà đi vắng để lên nhà thờ dỡ lu ra xem cho biết cái gì ở trong. Lý rắp tâm chờ đợi trong sư nôn nóng, ngày một ngày hai và cho đến một hôm, cơ hội đã đến với Lý.
Hôm đó cả nhà đều đi vắng. Sau khi chạy ra ngoài nhìn trước nhìn sau không có ai, Lý cài cổng cẩn thận rồi đi nhanh vào bàn thờ thận trọng dỡ nắp lu lên nhìn xem. Một cảnh tượng hãi hùng khiến Lý phải tái xanh mặt, tay chân run rẩy vội vàng đậy nắp lu lại. Số là khi nhìn vào trong lu, Lý thấy một đôi rắn xanh to lớn nằm cuộn tròn miệng há rộng như đớp mồi.
Hoảng quá, Lý chạy thật nhanh ra ngaòi, sau vài phút trôi qua, Lý bình tĩnh và tự nghĩ “Không hiểu vì sao gia đình nhà chồng mình lại nuôi rắn và nuôi rắn để làm gì? Tâm hồn Lý vốn mộc mạc chất phác , nàng nghĩ tiếp chẳng biết là nuôi rắn để làm gìm những loài rắn là loài độc ta cần phải giết đi mới được. Nghĩ là làm, Lý liền trở xuống nhà bếp đun ngay một nồi nước sôi lớn, sau khi nước sôi Lý bê lên nhà thờ mở nắp lu ra rồi bất ngờ nghiêng nồi nước sôi đổ úp vào lu rắn. Đôi rắn xanh bị mước sôi liền quẫy chết, giữa lúc đó, ngoài rẫy đậu hai vợ chồng ông Nhiếp và Nhiêm cùng hai con trai đang hái đậu bỗng dưng thét lên một tiếng lớn rồi ngã lăn ra tay chân co quắp, mắt trợn ngược, miệng ứa máu tươi, thân thể tím lịm giãy chết tức khắc.
Những người làm rẫy ở cạnh đó trông thấy đổ xô lạicứu chữa nhưng vô phương vì họ đã chết ngay.
Tin gia đình ông Nhiếp cả 5 người đều bị chết bất đắc kì tử được loan truyền rất nhanh. Người phụ nhau khiêng những xác chết về nhà trước sự sợ hãi thất thần của nàng Lý.
Lý như người điên loạn, hết ôm xác chồng khóc lóc kêu la lại ôm xác cha mẹ chồng và 2 cậu em chồng òa khóc. trước thảm họa tày trời đóm mọi người chung quanh bắt đầu đặt nghi vấn kẻ thì đưa ra giả thuyết này người thì lập luận nọ, có kẻ thì cho rằng bị ma hành quỷ lộng. Cuối cùng một giả thuyết được chấo nhận rất tai hại cho nàng Lý. Đó là giả thuyết bị đầu độc, và người bị tình nghi bỏ độc chính là nàng Lý.
Thế là nàng Lý bị bắt giữ để điều tra, còn lại 5 xác người được dân trong vùng họp lại tẩm niệm và chôn cất.
Thói thường “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường” và cũng chính nhờ miệng thế gian đồn đãi mà nàng Lý nhờ đó mới mở được oan tình.
Số là có ông thầy địa lý người Tàu rất am hiểu về ngãi nghệ và trùng độc đi ngang qua vùng nàt nghe tin truyền là 1 gia didnhf 5 người chết bất đắc kỳ do sự đầu độc của nàng dâu, nên ông có ve thắc mắc và nghi ngờ. Ông tìm đến nhà chức trách để xn đựoc hỏi thăm tội phạm với những lí lẽ mà ông cho rằng không pohải đầu độc.
Thực ra nhà chức trách cũng đã ngờ như vậy nhưng vì chưa có yếu tố chính xác về cái chết của toàn gia ông Nhiếp nên buộc lòng phải giữ nàng Lý để điều tra và càng điều tra càng thấy rõ nàng Lý không phải là tội phạm, trước nghi vấn đó thì đột nhiên ông thầy xuất hiện và trình bày sự ngờ vực của mình. Ông thầy Tàu nói:
- Đây có thể là một trowngf hợp nuoi đôc bị phải độc, bởi vì chỉ có cái chết bị độc ngãi cắn hoặc phải độc ngãi thì thân mình mới bầm tím co quắp và trợn lên mà thôi. Quả nhiên sau khi gặp nàng Lým ông thầy Tàu gặng hỏi Lý là có thất gia đình chồng có gì káhc lạ, chẳng hạn như nuoi chuột, rắn, sâu lớn ko?
Nàng Lý lúc bấy giờ đã trở lại trạng thái bình thường, ngoài sự khổ đau vì đại tang rất lớn nên khi được hỏi,nàng nhớ đến đôi rắn xanh ở trong lu bị mình giết bèn đem kể lại đầu đuôi câu chuyện từ khi mình về làm dâu nhà ông Nhiếp, thấy chuyện lạ khi phát giác ra đôi rắn xanh ở trong lu, rồi nấu nước sôi đổ vào giết đi, tất cả nàng Lý kể lai rất rỗ ràng cho nhà chức trách và ông thầy Tàu nghe.
Nghe xong câu chuyện của Nàng Lý, ông thầy Tầu gật gù và quay ại nói cho nhà chức trách nghe, thủ phạm giết chết cả gia điùnh chồng chính là nàng Lý và nàng Lý cũng chính là cứu tinh của dân trong vùng. Ông giải thích:
Chính gia đình ông Nhiếpp đã nuôi ngãi trung độc để hại người và cầu lợi cho mình.
Con độc sống với chủ rất trung thành và luôn luôn làm theo lệnh của chủ. Suốt ngày nằm một chỗ, nhưng khi chủ sau khiến thì dù phải vượt hàng trăm cây số con độc cũng vượt đi.
Mõi người nuôi độc đều có thứ iếng nói riêng với con độc. Và trung bình ba năm người nuôi độc phải dùng con độc của mình để giết chết một người, có như thế sự làm ăn mới phát đạt được. Cách thức giết người thì tùy theo cách điều khiển của chủ độc, chỉ cần con độc cắn vào người nào thì người đó chết ngay. Một khi người chủ độc không muốn nuôi độc nữa thì phải sắm đủ lễ lộc gồm có đèn nhang, 24 con gà sống, một thúng gạo nếp chờ đến canh khuya mang con độc cùng với các lễ vật đi về phía đông cách nhà trên 3 cây số, tìm một khoảng đất trống đặt lễ vật xuống đốt nhang đèn cũngs vái tứ phương rồi thả gà ra và luôn con độc. Thả độc xong chủ độc im lặng bỏ về nhà bằng con đường khác mà không đi theo lối cũ.
Từ đó con độc sống chết ra sao hoặc đi đâu không ai biết, chỉ có điều chắc chắn là con độc không hại người nữa.
Có một cách để biết nhà có nuôi độc là khi vào nhà người ta chỉ cần úp chiếc nón xuống đất là biết ngay, bởi vì chủ độc sẽ vội vàng dỡ chiếc nón lên và lật ngửa đêm cất chỗ khác, nếu không dở nón lên cất thì con vật sẽ cất lên tiếng kêu kỳ quái và tìm đủ mọi cách để thoát ra bò quanh chiếc nón cho bằng được.
Sau khi nghe lời giải thích của ông thầy Tầu, nhà chức trách sở tại liền cùng ông thầy Tầu đi với nàng Lý về nhà ông Nhiếp mở lu ra xem, quả nhiên có đôi rắn xanh chết sình thúi ở trong lu, ông thầy Tầu giải thích thêm rằng gia đình nào nuôi độc thì tính mạng mình gắn liền với con độc nếu vì bất cứ một lẽ gì mà con độc chết thì tất cả gia chủ đều chết theo tức khắc, sở dĩ nàng Lý giết độc mà nàng không chết theo gia đình chồng vì nàng được gia đình chồng xem như người ngoài cuộc.
Thế là nàng Lý được tha nhờ ông thầy Tầu và dân trong vùng mới biết được là sở dĩ lâu nay trong vùng có người chết vì bệnh lạ tất cả đều do bàn tay hạ độc của gia đình ông Nhiếp. Từ đó họ mới an tâm làm ăn và xem nàng Lý như vị cứu tinh của họ.
Trên đây là câu chuyện có thực xảy ra ở Lai Châu. Ngày nay sự văn minh đã cảm hóa được con người nên lối dùng độc theo kiểu này cũng không còn nữa, đó cũng là một sự may lớn cho xã hội vậy.

MỘT LOÀI HOA LAN ĐẸP - MỘT LOÀI NGÃI CẦU TÀI

tại tỉnh Thác Khôn ở miền hạ Lào, tỉnh này giáp giới với Cao Miên, tên tỉnh là Khone nhưng vì vùng khonne rất nhiều thác nước thiên nhiên nên mọi người gọi một cách nôm na là Thác Khôm.
Những du khách đến đất Lào phần nhiều thích ngắm cảnh thác nước thiên nhiên, tại đây tôi đã có dịp viếng thác Somphonit; Sang Rheuk (Bạch tượng) và đặc biệt nhất là thác Rha pheng. Thác này rất đẹp, có thể nói là đẹp nhất xứ Lào. Giữa thác đá dựng lên hình vòng cung vbề ngang ít lắm cũng gần trăm thước, đứng từ xa trông lại chẳng khác gì một chiếc móng ngựa khổng lồ, nước từ trên cao đổ xuống cuồn cuộn, bọt nước văng lên tung toé tạo thành một vùng trắng xoá, dưới ánh nắng chiều trông óng ánh như ngũ sắc lung linh huyền ảo. Tục truyền rằng : nơi đây những loài cá sống lâu năm tụ về thì được hoá rồng.
Đi thăm thác Rha pheng tôi phải tự hào rằng mình đã tạo được một cuộc du ngoạn kì thú bổ ích và lắm công phu.
Thực vậy, muốn đến được thác nước này tôi phải đi bằng xe ngựa dọc theo đường tỉnh lộ sô 13 rồi qua sông và đi bằng nhiều thứ xe khác kể cả đi bộ khoảng 20 cây số mới đến nơi.
Bên cạnh thác có một nhà lều hình lục giác lợp lá mây rừng, dùng để cho du khách nghỉ chân hoặc phóng tầm mắt ra xa để ngăm phong cảnh núi rừng thiên nhiên.
Khó mà tả được cảnh đẹp của rừng cây thác nước hùng vĩ, nếu không được tận mắt chứng kién.
Vì đường sá trở ngại nên bất cứ ai đã đến viếng thăm thác Rha pheng đều phải chuẩn bị một đêm ngủ lại để sáng ra còn có thể viếng thăm một vài cảnh đẹp khác ở xung quanh.
Đêm rừng thực là huyền bí, giữa cảnh trời đêm mênh mông huyền hoặc trong căn lều lá tôi nằm thao thức mãi không ngủ được một phần vì xứ lạ, một phần vì nghe tiếng khèn từ 4 phía vọng lại tạo cho kẻ xa nhà, xa quê hương một nỗi buồn nhưng nhiều thấm thía.
Tiếng khèn não nuột vương mang tuy cung điệu gần như lặp lại nhưng âm thanh lạ lùng bí ẩn, nghe như có vẻ man dại, kể lể trách móc. Nhất là tiếng khèn lại được trỗi lên giữa một vùng rừng thẳm thâm u nghe lại càng thần bí, ai oán.
Nghe qua tiếng khèn của dân Lào, tôi nhận xét tâm hồn của họ rất chất phác, rất gần gũi với thiên nhiên, đem cuộc sống của mình với tất cả mọi sự dễ dãi nhưng trong thâm tâm, trong sâu kín của tâm hồn họ thì hình như chất chứa muôn vàn sự ấm ức chẳng khác gì con tằm nằm trong cái kén khi đã biến thành nhộng thì muốn cắn kén phá vỡ để chui ra.
Tức cảnh sinh tình, tôi khe khẽ ngâm lên mấy câu thơ tự sáng tác:

Ôi, rừng đêm mông mông huyền hoặc
Tiếng khèn buồn cung điệu vương mang
PHa pheng nghìn năm bát ngát
Núi rừng Lào chan chứa ánh trăng loang
Nghe tiếng nhạc lòng ta nhưng nhức
Thương quê nhà thao thức từng canh
Trên mái khuya sương rơi lác đác
Sầu mênh mang nhung nhớ vây quanh.

Sáng hôm sau, rời khỏi thác Pha pheng tôi trở về tỉnh và sống ở đó nhiều ngày.
Tuy gọi là tỉnh nhưng Thác Khôn dân cư chẳng có gì là đông đúc lắm. có lẽ vì xứ Lào đất rộng người ít nên dân cư không sống tập trung nhiều, họ ở cách xa nhau hàng dăm bảy trăm thước hoặc vài cây số là thường.
Tỉnh Khôn vào thuở đó còn có trên ba ngàn dân, tại đó tôi có tìm hiểu được một giai thoại về loài hoa phong lan có tên là Spao linh. Hoa này ở núi rừng Việt Nam không thiếu, nhất là vùng thâm sơn Đà Lạt, ngừoi ta gọi là Hoàng lan. Giới chơi phong lan ở VN rất thích trồng loại lan này.
Sở dĩ tôi đề cập đến giai thoại hoa lan này bởi vì nó cũng chính là một loại ngãi cầu tài.
Câu chuyện như sau: có một gia đình nọ, người chồng đi vào rừng tình cờ nhổ được một bụi hoàng lan mọc bám trên cây mục, ông ta nhổ về đem trồng vào một cái thùng bằng gỗ cây.
Bụi hoa Spao linh ban đầu chỉ bằng hai nắm tay cầm chặt nhưng từ ngày được trồng vào chậu, được sự săn sóc của bàn tay người, cây Hoàng lan phát triển rất mau, đến cuối năm thì cây nảy nở ra bằng ba lần lúc mới trồng, lá dài thêm và xanh mướt. Từ trong cây trổ ra 4 giò bông nở hoa tuyệt đẹp, rồi năm sau và năm sau nữa, chậu hoa càng ngày càng to lớn, cũng từ ngày trồng chậu hoa này, gia đình nọ làm ăn rất phát đạt chẳng khác gì sự nảy nở của chậu hoa.
Một hôm có ông thầy ngãi đi ngang qua nhà người người chủ có trồng chậu hoa Hoàng lan đó, ông chợt dừng lại và chỉ chậu hoa trồng ở giữa sân rồi nói lại với chủ nhà rằng:
Đây là một chậu ngãi cầu tài, xin ông chủ để ở một nơi cao ráo và mát mẻ và thỉnh thoảng nên cho vào đó một ít lòng đỏ hột gà để cây chóng xanh tốt, ai trồng cây này mà xanh tốt, chóng nảy nở , ra nhiều hoa thì sự làm ăn đại phát, nếu trồng nó mà bị tàn lụi đi thì sự làm ăn cũng theo đó mà phá sản.
Nghe lời ông thầy ngãi nói vậy người chủ nhà mỉm cười gục gặc đầu nhưng trong thâm tâm thì ông ta tỏ vẻ chẳng tin, dù trong thực tế từ ngày trông chậu hoa đó người chủ nhà làm ăn rất phát đạt, nhưng ông tự tin vào tài năng của mình và cho rằng nhờ sự cần cù chăm chỉ làm ăn và nhờ thời vận của mình tốt mới khá được, hơn nữa ông ta là một người ngang bướng không tin vào mê tín dị đoan và cho rằng lời nói của ông thầy ngãi đó là huyền hoặc vô lý.
Ông thầy ngãi nhìn qua dáng điệu của người chủ nhà và biết rằng ông ta không tin mình. Tuy vậy ông cũng không lấy thế làm buồn, vui vẻ chào chủ nhà rồi quay gót đi ra sau một lời nhắn nhủ:

- Một ngày nào đó ông sẽ hiểu rõ giá trị của chậu ngãi và lời nói của tôi hôm nay.
Đứng nhìn ông thầy ngãi đi khuất người chủ nhà mới quay trở vào miệng lẩm bẩm:
- Hừ! Thực là hão thuyết.
Ngày nọ, có một ngừoi chơi lan nghe đồn về cây lan này đã tới nhà ngừoi chủ chậu lan để hỏi mua với giá cao. Ông đưa ra lời đề nghị mua với giá khiến chủ nhà phải ngạc nhiên đến không tưởng tượng đựoc.
Ông chủ nhà vì ham lợi nên đã đồng ý bán ngay với nét mặt mừng vui rạng rỡ.Người mua hoa sau khi trả tiền thì vội vã mang chậu hoa đi ngay, còn chủ nhà nghĩ rằng :" có lẽ ông thầy ngãi nói đúng một phần nào vì mình đã bán chậu hoa với một giá cao chẳng thua gì vàng ngọc, đúng là chậu ngãi cầu tài". Thực ra ý nghĩ đó của ông chủ nhà nọ chỉ là một ý nghĩ có tính cách châm biếm và hài hước mà thôi, trên thực tế ông ta vẫn không tin chậu hoa Hoàng lan là một thứ ngãi cầu tài.
Nhưng sự đời có nhiều chuyện lạ mà không ai ngờ được, kể từ ngày bán đi chậu hoa Hoàng lan ông chủ nhà đó bắt đầu gặp nhiều sự rắc rối thất bại trên con đường làm ăn của mình . Sự nghiệp này dồn dập đến mức chẳng mấy chốc mà gia tài ông đã bị khánh kiệt, đến phút đó ông chủ nhà mới hối hận trách mình vì không tin lời ông thầy ngãi và ham tiền đem bán chậu hoa nên mới có sự đổ vỡ ngày hôm nay.
Khi sự nghiệp đã hết, tay trắng trở về không , bấy giờ người chủ nhà mới tin lời ông thầy ngãi và đi vào rừng sâu để kiếm tìm. Ông đã tìm được, nhưng khi bụi hoa được trồng vài chậu lại chẳng sinh sôi nảy nở mà càng ngày càng tàn lụi đi trước sự buồn khổ và thất vọng vô cùng của chủ nhà, chứng tỏ rằng thời của ông đã hết.
Nếu chỉ căn cứ vào câu chuyện trên đây để kết luận Hoàng lan là một loại ngãi cầu tài thì hơi vội. Nhưng trên thực tế qua nhiều khảo nghiêm của các nhà chuyên miin thì quả thực cây Hoàng lan là một loại ngãi cầu tài có giá trị thực thụ.
Có một điều rất đặc biệt là trồng cây hoa Hoàng lan để cầu tài không phải qua sự phù phép của các nhà chuyên môn về ngãi nghệ, mà nó đã có hẳn thiên tính ai hạp thì được. Khác với các loài cây ngãi khác luôn luôn phải có sự tinh luyện và phù phép mới thành công.