Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

TRÙNG TANG LIÊN TÁNG

Mỗi khi trong nhà có người mất , việc đầu tiên là chúng ta phải kiểm tra xem ngày giờ mất của người đó có phạm Trùng tang liên táng hay không . Việc này rất dễ thực hiện , nhưng có khả năng ngăn ngừa cao những sự việc đau thương xảy ra sau này . Xin các bạn chớ coi là thường.
1/ HỎI : Thế nào là Trùng tang liên táng .

ĐÁP : Trùng tang liên táng là một hiện tượng có thật trong cuộc sống của chúng ta . Không có nhiều tư liệu viết về hiện tương này , nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng với nhau những trường hợp chết phạm vào Trùng tang liên táng hết sức đau thương , thậm chí có nhà nhân đinh đông đúc là thế mà chỉ vài ba năm phải chịu cảnh tuyệt tự . Tại miền Bắc Việt Nam có một trung tâm nhốt Trùng lớn nhất nước : Đó chính là chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh .Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ. Nơi đây từ ngày xưa , các vị sư tăng đã có những phương pháp Trấn Trùng rất huyền bí mà hiệu quả . Hàng ngày , vào buổi chiều , các sư ở đây phải nấu một nồi cháo to , cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây, bữa nào quên là gà vịt của dân quanh vùng thay nhau chết la liệt . Ngoài ra , tại miền Bắc Việt Nam , từ xưa đã có các môn phái Pháp Sư theo Bắc Tông , Pháp sư các môn phái Phù thủy của đồng bằng bắc Bộ nhất là tại các tỉnh Bắc Ninh , Hải Phòng , Nam Định ... có khả năng hóa giải Trùng tang liên táng rất hay . Thông thường , các vị sư trong chùa chỉ học theo đạo Phật chứ ít khi học theo kiểu Pháp sư , Phù Thủy , thế nhưng đặc biệt ở chùa Hàm Long - Bắc Ninh , Liên Phái - Hà Nội và một vài chùa nữa lại có những bộ ván khắc in phù giải Trùng tang liên táng từ hàng trăm năm . Trùng tang liên táng là một hiện tượng rất hay xảy ra trong cuộc sống , nó được cha ông ta nghiên cứu từ ngàn xưa . Biểu hiện của nó là sau khi trong nhà có một người bị chết vì bất cứ lý do nào , sau 49 ngày thì trong dòng họ trực hệ của người mất lần lượt có hiện tượng chết nhiều người thường là có nguyên nhân không xác đáng hay chết bất đắc kỳ tử.
2/ HỎI : Cách tính trùng tang liên táng như thế nào ?

ĐÁP : Trùng tang liên táng được tính theo tuổi âm lịch và tháng , ngày giờ âm lịch khi mất . Các bạn có thể tự mình tính theo bảng hướng dẫn sau :

Trong bảng này , nam đi thuận chiều kim đồng hồ , nữ đi nghịch chiều kim đồng hồ . Nam khởi 10 tại Dần , nữ khởi 10 tại Thân .

tôi xin lấy một ví dụ gần nhất : Nam mất năm 64 tuổi ( 1947) , mất vào tháng 3 , ngày 8 , giờ Ngọ (12g40 ngày 8/3/2010) . Nam khởi 10 tại Dần theo chiều kim đồng hồ , 20 tại Mão , 30 tại Thìn , 40 tại Tỵ , 50 tại Ngọ, 60 tại Mùi , 61 tại Thân , 62 tại Dậu , 63 tại Tuất , 64 tại Hợi. Như vậy năm phạm Trùng tang Nhất xa ( kéo theo 1-3 người chết theo ) . Tiếp tục tháng 1 tại Tý , tháng 2 tại Sửu , tháng 3 tại Dần - Như vậy tháng phạm trùng tang Nhị xa ( kéo theo 3-5 người chết theo ) . Tiếp tục , ngày 1 tại Mão , ngày 2 tại Thìn , ngày 3 tại Tỵ , ngày 4 tại Ngọ , ngày 5 tại Mùi , ngày 6 tại Thân , ngày 7 tại Dậu , ngày 8 tại Tuất - Ngày được Nhập Mộ . Tính tiếp - Giờ Tý tại Hợi .....giờ Ngọ tại Tỵ - Như vậy ngày phạm trùng tang Tam xa ( kéo theo 5-9 người chết theo ) .

Cách tính cho nữ cũng tượng tự nhưng theo chiều ngược kim đồng hồ và khởi 10 tại Thân .
3/ HỎI :Những ai trong gia đình bị ảnh hưởng bởi Trùng tang liên táng :

ĐÁP : Chỉ những người có dòng máu trực hệ với người mất mới chịu tác động của Trùng tang liên táng . Như trong gia đình thì có cha , mẹ , vợ , con , anh chị em ruột , cháu nội là chịu tác động của Trùng tang liên táng . Các người khác như con dâu , con rể , cháu ngoại , người làm công thì không chịu động của Trùng tang liên táng . Trùng tang liên táng không lây qua những người không thuộc dòng máu trực hệ.
4/ HỎI : Trùng tang liên táng tác động theo thời gian như thế nào ?

ĐÁP : Trùng tang liên táng sẽ bắt đầu tác động sau khi người chết phạm Trùng tang liên táng được 49 ngày ( hết thời gian vong hồn người mất ở Thân Trung ấm ) và kéo dài liên tục có khi đến 10 năm . Nếu những người chết sau mà lại tiếp tục phạm Trùng tang liên táng thì thời gian kéo dài rất nhiều năm .
5/ HỎI : Những biểu hiện có thể nhận biết khi một người bị ảnh hưởng của Trùng tang liên táng sắp mất ?

ĐÁP : Thông thường , nếu không chú ý sẽ không thể nhận ra được . Nhưng nếu quan sát kỹ , khi trong gia đình có người chết phạm Trùng tang liên táng , thì nếu trong gia đình có người có những biểu hiện kỳ quặc , khác thường , ít ăn , hay ngủ , không tin sự chết chóc ...thì gần như chắc chắn là người đó sẽ là người chết kế tiếp . Trong nhiều trường hợp nặng hơn, có hiện tượng tru như chó sói , ngất xỉu , nói năng bậy bạ , điên loạn , tức là người đó đã nhiễm phải Trùng tang liên táng , đã lậm vào người cực kỳ khó chữa .
6/ HỎI : Bản chất của Trùng tang liên táng là như thế nào ? Người xưa và ngày nay đã nghiên cứu đến đâu rồi ?

ĐÁP : Trùng tang liên táng hoàn toàn có thật , bản chất của sự việc này ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào khả dĩ có thể giải thích được . Trong quá trình nghiên cứu về hiện tượng này , dienbatn cho rằng đó tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng . Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng . Vì lý do " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu " hay hiện tượng cộng hưởng tần số . . Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương :Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của Trùng ,nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào.Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống ,dòng họ.Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều,nên trong lý thuyết về Nhạc,loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia ).Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống. Chính điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang liên táng mới bị , còn những người khác và con Dâu , con Rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hường .
7/ HỎI : Khi trong nhà có người mất và phát hiện phạm Trùng tang liên táng thì mọi người cần phải làm gì ?

ĐÁP : Ngày sau khi trong nhà có người mất , việc đầu tiên là phải tính xem có phạm Trùng tang liên táng hay không ? Cách tính theo phần đã viết ở trên . Trùng tang liên táng cần có những việc phải kiêng kỵ trước khi hoá giải .

LIÊN QUAN GIỮA CÁC TUỔI CẦN TRÁNH KHI PHẠM TRÙNG TANG .
Sách cũng viết rằng :
Trùng tang Nhất xa - Ba người chết theo .
Trùng tang Nhị xa - Năm người chết theo ,
Trùng tang Tam xa - Bẩy người chết theo .
Sinh năm Kỷ Dậu nên bị Phục tang tại Địa hộ Tỵ - Tam xa .
Phục - Sự quay trở lại của Vong hồn .
Trùng _ Sự nhập của Vong hồn vào người sống , bắt đi theo .
Trùng tang ngày là nặng nhất .
Trùng tang Tháng là nặng nhì .
Trùng tang Giờ là nặng thứ ba .
Trùng tang Năm là nhẹ nhất .
KIÊNG KỴ :
Người nhà kiêng người Tam hợp tuổi , kiêng tuổi xung , kiêng tuổi Hình với Vong mệnh .
Kỵ Long - Hổ - Kê - Xà tứ sinh Nhân ngoại ( Người khách các tuổi Thìn - Dần - Dậu - Tỵ không được có mặt khi khâm liệm ) .
Kiêng người có cung phi Bát trạch xung khắc với Vong mệnh .
Kiêng khóc thành tiếng khi đang liệm .



>
8/ HỎI : Hóa giải Trùng tang liên táng như thế nào ?

ĐÁP : Trùng tang liên táng là một sự thực , dù cho người ta đến ngày hôm nay vẫn chưa tìm ra bản chất của nó . Từ xa xưa , người Việt chúng ta đã có quá trình theo dõi , điều trị có hiệu quả việc này . Thực ra sau khi tính toán và phát hiện ra người chết phạm vào Trung tang liên táng , việc điều trị rất đơn giản và hiệu quả rất cao .Điều cần thiết là khi phát hiện ra phải điều trị càng sớm càng tốt . tôi xin giới thiệu một số phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng có kết quả mà cậu tư sưu tập được và một vài phương pháp tôi thường sử dụng đạt được kết quả khá tốt . Một điều cần chú ý là có nhiều phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng , nhưng những phương pháp của Tiên Gia , Phù thủy , Đạo gia thường là những phương pháp bắt nhốt Trùng . Cách này tuy hiệu quả nhưng thực ra rất nguy hiểm vì khi công lực của Thày còn cao , Trùng còn phải chịu hãm trong vòng tù ngục , nhưng khi Thày chết , không còn ai cai quản nhà tù nữa , Trùng sẽ thoát ra gây ảnh hưởng rất nặng đến Gia đình Thày và Thân chủ . Phương pháp tốt nhất là dùng Mật Tông , trì chú cho Trùng được siêu thoát , sau đó hồi hướng công đức cho họ . Phương pháp này dùng những năng lực của Phật pháp , siêu độ cho Trùng rất tốt , khiến cho Trùng sớm siêu thăng tịnh độ , không còn làm ác được nữa .
Có nhiều cách hóa giải Trùng tang liên táng theo nhiều pháp môn . Mỗi pháp môn có cái hay và cái dở riêng . Trong Nam cậu tư chưa thấy có người nào hay môn phái nào chú ý đến hiện tượng này . Ngoài Bắc thì cách đây gần 1000 năm ( Thời Lý ) đã có những trung tâm trấn trùng nổi tiếng là Chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh . Chùa này còn lưu giữ bộ ván khắc Bùa Trấn trùng đầy đủ nhất . Sau này , không hiểu cơ duyên nào , chùa Liên Phái tại Hà Nội cũng có được bộ ván khắc này .

( Bộ linh phù trấn trùng tang.)
Tuy nhiên theo đánh giá của cậu tư , cách hóa giải này có tính chất trấn áp , dùng lực của Thày quá nhiều , gây những hậu quả không hay về sau khi Thày mất đột ngột . Điều đó có nghĩa là trong quá trình hóa giải Trùng tang liên táng , Vị Pháp sư đã dùng lực và sức mạnh của Thày Tổ , Thần linh , binh gia bắt nhốt Trùng và vong linh người mất cho vào hũ và trấn bằng những lá Bùa trên miệng để khỏi chạy ra . Cách này trong thời hạn 3 năm ( từ khi mất đến lúc bốc mộ ) , người nhà phải nhờ người khác đem di ảnh và bát nhang lên chùa để nghe đọc Kinh liên tục . Trong nhà tuyệt đối không được thờ cúng , gọi tên hay than khóc vì làm như vậy Trùng sẽ gỉai thoát ra ngoài . Các bạn đọc những dòng sau của một người đã từng đưa Vong lên chùa để hiểu thêm :
Nhà có người chết trùng phải lập tức gửi người đó lên chùa, tuy nhiên không phải chùa nào cũng giữ được vong chết trùng. Nó phụ thuộc vào sự linh thiêng của chùa và mức độ cao tay của vị sư trụ trì. Nếu trùng nhẹ các bạn có thể gửi lên một ngôi chùa nào đó gần nhà, các nhà sư sẽ hàng ngày đọc kinh niệm phật cho vong hồn siêu thoát( hay nói đúng ra là nhốt vong vào trong ngục, không cho đi lung tung kẻo quỷ sứ bắt được nó sẽ tra tấn và khai ra tên họ người nhà, càng những người hợp với vong chết trùng càng dễ bị bắt).
- Nếu trùng nặng, tôi khuyên chân thành bạn phải gửi ngay vào chùa Hàm Long, dù có ở trong Nam thì cũng nên cấp tốc đi máy bay ra mà gửi. Các chùa khác nổi tiếng về cái gì thì tôi không biết nhưng đệ nhất giữ vong phải là chùa Hàm Long ( Ở Thành phố Bắc Ninh). Đây là ngôi chùa cổ mấy trăm năm nằm trên sườn núi, địa thế rất đẹp. Chùa có những cây cổ thụ cực to, và cũng là một trong những nơi đào tạo các nhà sư ở Việt Nam. Từ trong nam ngoài bắc trùng tang đều đem về đó gửi. Hàng ngày vào buổi sáng tôi thấy các nhà sư tụng kinh niệm phật cúng vong rất cẩn thận.
- Khi gửi vào chùa rồi, bạn có thể yên tâm ăn ngủ nếu thực hiện đúng các điều sau( các nhà sư chắc cũng sẽ nói lại cho bạn nếu bạn đến đó): 1- sau khi gửi lên chùa, ở nhà không được lập bàn thờ cúng bái người đã chết nữa kể cả ngày giỗ tết, vì có hương là có hồn, chỉ cần bạn đốt hương và đọc tên người chết thì đó coi như chìa khoá mở ngục cho vong thoát ra ngoài. 2- Khi đưa vong lên chùa phải nhờ người không phải là họ hàng, nếu nhờ được bạn bè là tốt nhất, còn nếu không cũng phải nhờ người bên họ ngoại. Vì vong chết trùng thường rất khôn ngoan, nếu thấy người quen đưa đi thì thường nó sẽ đi theo về hoặc tệ hơn là nó đã biết trước và không đi theo. Thế nên không nên bàn chuyện đưa tiễn vong lên chùa ở nhà người chết.3- sau khi nên mộ tròn tức là người chết đã về với tổ tiên, mới được thờ cúng lại bình thường.
* Có một nhà sư đã nói đặc điểm của người chết trùng (không phải ai chết trùng cũng có đặc điểm này, tôi chỉ ví dụ để bạn tham khảo thôi)là : dù có ốm thập tử nhất sinh người đó vẫn luôn tin mình sẽ sống ( kể cả là ung thư giai đoạn cuối thì vẫn tin có phép tiên), nên nếu bạn có hỏi xem người ấy có muốn trăn trối gì không thì họ thường lảng tránh câu đó không muốn trả lời. Thêm nữa nếu mất trong khoảng giữa đêm hoặc gần 6h sáng thì cũng nên cẩn thận vì đó là giờ quan, nên đi xem xét cho cẩn thận kẻo bị trùng tang mà không biết.
* Ở chùa Hàm Long có các lá bùa để gia đình đeo vào trong khoảng 3 năm để tránh tai hoạ, tôi thấy một mặt là chữ nho một mặt là phật bà.
* Rất tiếc là tôi không nhớ địa chỉ cụ thể, tuy nhiên bạn có thể đi đường cao tốc về thành phố Bắc Ninh, có 1 cái cầu vượt, tay trái đi vào thị xã, tay phải đi về phía chùa. Tuy nhiên chùa ở núi nên còn đi vào khá xa, tôi chỉ nhớ là có đi qua nhà máy kính nổi. sau đó thì bạn hỏi đường tiếp nhé, vì nó khá nổi tiếng mà,với lại cũng có biển chỉ đường đi về chùa đó. Tôi đã đi nhiều chùa nhưng đó là ngôi chùa cổ u tịch nhất mà tôi biết, khi tôi đến đó thấy cả dãy dài ô tô từ tứ phương đổ về- thường là những người đi gửi vong chứ ít ai đi vãn cảnh chùa lắm có lẽ vì tâm lý đó là nơi giữ vong, mọi người đến thường xong việc đi luôn, chắc cũng vì sợ ở lâu chỉ thêm đau long do thương xót người đã mất. Các gia đình sau khi gửi vong thường chỉ thực hiện được một thời gian đầu những điều cần kiêng, sau vì thương tiếc người thân đã cúng lại vì sợ ma bị đói. Đây là điều cần hết sức tránh vì các nhà sư cúng bái còn cẩn thận hơn chúng ta nhiều. Có nhiều gia đình phải gửi đi gửi lại nhiều lần vì vong theo về, vì cúng khấn ở nhà. Vì vậy bạn nên tránh những điều tôi đã nói nhé. "

9/ HỎI : Ngoài việc chết Trùng tang liên táng như trên còn có loại Thần trùng nào khác nữa hay không ?

ĐÁP : Trùng tang liên táng như vậy là thông dụng nhất . Ngoài ra còn có một số loại Trùng trong sách cổ còn ghi lại như sau :

"THẦN TRÙNG.

Cách này ở nhiều sách hay lầm lẫn với các ngày Trùng tang, Tam tang, Trùng Phục...Thần Trùng là trong gia quyến , thân chủ có người chết nhằm ngày đó , nếu không Nhương Ếm thì sẽ bị tai họa chết trùng , người ta gọi là Trùng tang Liên Táng , trong thân sẽ có người chết tiếp. Những ngày đã nói ở trên không kỵ chết mà chỉ kỵ những việc an táng , tẩn liệm , mặc đồ tang , chôn cất , xả tang... Còn như chết nhằm ngày Thần Trùng mới đáng sợ. Sau đây là ngày Thần Trùng :
_ Tháng 1,2,6,9,12 : Chết nhằm ngày Canh Dần hay Canh Thân là phạm Thần Trùng " Lục Canh Thiên Hình ". Nếu thêm thấy năm tháng cũng vậy là càng nặng.
_ Tháng 3 : Chết nhằm ngày Tân Tị hay Tân Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Tân Thiên Đình " , nếu gặp thêm năm , tháng nữa càng nặng hơn
_ Tháng 4 : Chết nhằm ngày Nhâm Dần hay Nhâm Thân là phạm Thần Trùng " Lục Nhâm Thiên Lao " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
_ Tháng 5 : Chết nhằm ngày Quý Tị hay Quý Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Quý Thiên Ngục " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
_ Tháng 7 : Chết nhằm ngày Giáp Dần hay Giáp Thân là pahm5 Thần Trùng " Lục Giáp Thiên Phúc " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
_ Tháng 8 : Chết nhằm ngày Ất Tị hay Ất Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Ất Thiên Đức " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
_ Tháng 10 : Chết nhằm ngày Bính Dần hay Bính Thân là phạm Thần Trùng " Lục Bính Thiên Uy ". nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
_ Tháng 11 : Chết nhằm ngày Đinh Tị hay Đinh Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Đinh Thiên Âm " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng " - NCD .

10/ HỎI : Theo anh , việc giải Trùng tang liên táng như thế nào là đơn giản và có hiệu quả nhất ?
ĐÁP : Qua một thời gian nghiên cứu khá lâu , từ một bài thuốc Trấn trùng tang liên táng bí truyền của dòng họ , cậu tư đã kết hợp sử dụng một số Sớ , Phù Bắc Tông được vẽ hai lớp bằng mực và Kỳ Nam ( Tinh chất của Trầm Hương ) và vận dụng Đàn pháp Mật Tông Tỳ Lô Giá Na , Dược Sư , Chuẩn Đề, tụng chú liên tục trong 3 ngày sẽ là một thứ thuốc dùng để xông mộ và người rất hiệu quả . Phương pháp này khi xông xong mộ và người sống , chúng ta vẫn được thờ cúng người mất như bình thường , không cần phải gửi lên chùa Hàm Long . Trải qua hàng trăm trường hợp đã thực hiện trong những năm vừa rồi , tỷ lệ thành công trấn Trùng là 100% . Nguyên lý của bài thuốc này là không bắt nhốt Trùng và Vong hồn người chết nhốt vào tháp , mà dùng hơi thuốc , kết hợp với Quang năng của chư Phật , cầu siêu , giải thoát cho Trùng , biến nó từ Âm Binh thành Thiên Binh . Sau khi vỡ cái Vô Minh vốn có , họ rất vui mừng , cảm tạ . Cách này làm cho Vong linh của người mất , nhờ các Đà La Ni của chư Phật cũng được giải thoát rất nhanh . Có những trường hợp do Trùng đã xâm nhập cơ thể , các phương pháp khác đành bó tay thì sau khi xông thuốc của cậu tư

http://www.4shared.com/file/ZTnDUeth/bo_linh_phu_de_yem_trung_tang.html

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

độn giáp kiếm đấu 9

69.THIÊN BỒNG RẤT DỮ: CHỈ NÊN THỦ THÀNH VÀ YÊN DÂN.
(Sao Thiên Bồng Xuân - Đông thì tốt, Thu - Hạ thì hung).
Thiên bồng thủy là Đại hung tinh, chỉ nên giữ yên biên cảnh, giữ thành trì, vỗ yên
bình sĩ, an phần mộ, xây lăng tẩm. Nếu xây dựng, gả cưới bị thương.
70.XUÂN ĐÔNG RA QUÂN TƯỚNG TÁ ĐẠI THẮNG:
Thiên Bồng thủy tinh vượng ở tháng Dần Mão. Tướng ở tháng Hợi Tý.
Kinh rằng: Đại hung tinh vượng tướng khí hóa cát. Lại có câu: “Đại hung tinh vượng
tướng biến ra trung bình.
71.HẠ THU RA TRẬN, SĨ TỐT TỬ HÌNH:
Thiên bồng hưu ở tháng Tị Ngọ, Tử ở tháng Thân Dậu.
Kinh rằng: Bồng Trụ đại hung tinh, tướng binh chiến đấu tất vô công.
72.THIÊN NHUẾ RA QUÂN THÌ THẤY KHỐN:
Sao nhuế thuộc Thổ là Đại hung tinh, thuần âm, chỉ nên tụ họp bè bạn, tu nhân tích
đức. Nếu đem quân ra trận, sĩ tốt tử vong, Nguyệt kỳ theo nó có thể trừ nguy, tinh kỳ theo thì có thể giải sự công kích làm tan vũ lực Thu vượng, 4 tháng Thìn Tuất Sửu Mùi thì tướng…
73.THIÊN TRỤ XUẤT TRẬN: QUÂN NGỰA TIÊU TAN.
Nhật kỳ gặp thì ẩn nấp không tìm ra, tinh kỳ gặp thì cát, nguyệt kỳ thì hung.
Sao Thiên Trụ là Tiểu hung tinh, chỉ nên diễn binh, cố thủ, ẩn tích tàng hình. Kinh
rằng: “Thiên Trụ chi tinh, cương khí tại nội, bất khả dương binh, xuất tai xa mã toàn
khuynh”. Nếu dẫn quân đi ra mà thấy có mây xanh thì có sự loạn trong quân. Xe gãy, ngựa gục quân sĩ chết. Vượng tướng ở tháng…có mây đỏ thì bị hại, mây xanh thì gián điệp hại,mây vàng thì có sự kinh hoàng.
74.THIÊN XUNG NGÀN DẶM RA QUÂN: TRĂM NGƯỜI ĐỊCH VẠN NGƯỜI.
Sao Thiên xung giá thú thì tốt, thượng quan thì bị hao tài, chức nhà binh:lợi người.
Nếu gặp Tam kỳ và Hưu môn thì nên dùng vào việc quân. Gặp Nhật và tinh kỳ thì cát, gặp Nguyệt kỳ thì thường. Việc binh được hanh thông.
Thiên xung gặp mùa Xuân Hạ thì vượng tướng. Thu Đông thì không công.
75.THIÊN NHẬM BỐN MÙA GIÚP SỨC, BẮT GIẶC VỀ DINH.
Thiên nhậm Thổ là Đại cát tinh: Vượng ở tháng Thân Dậu, tướng ở bốn tháng Thìn
Tuất Sửu Mùi. Sao Thiên nhậm thì nên xin yết kiến quý nhân. Hành quân giá thú, tu tạo thì bất lợi.Trao đổi tiền tài hàng hóa, dựng vợ gả chồng mà được kỳ thì cũng tốt. Đem quân đi ngàn dặm, muôn sự đều tốt. Các thần thánh giúp đỡ, giặc tự quy hàng, gánh trời là tướng 4 mùa.trời đất phù trì, giặc chắp tay.
76.THIÊN PHỤ NÊN LUYỆN BINH TẬP TRẬN:
Thiên Phụ mộc tinh, nên ủy lại tướng sĩ, tập trận, đem quân nghìn dặm muôn sự đều
tốt. Kinh rằng: “Thiên phụ Tốn mộcthần kỳ tinh, lệnh thần ủy lạo tập kỳ binh”.
77.THIÊN ANH CHỚ ĐỘNG CHÚNG GIAO BINH:
Thiên Anh hỏa tinh, nên xuất nhập viễn hành, giá thú. Không nên xuất binh. Kinh
rằng: “Thiên anh chỉ thị thành vượng dinh, bất khả dương, quy đa ngoài……………, lại
nói: “Thiên anh Ly hỏa………………………, là võng bổ………………………, duy nghi
công tra triểu minh chu, nhược hoặc dương binh bị chấp câu”.
78.THIÊN CẦM RA TRẬN BỐN MÙA, ĐỊCH QUÂN QUI PHỤC:
Thiên Cần Thổ tinh, nên tế tự kỳ phúc, tiêu diệt quân hung, thưởng công công tước,
trăm sự đều tốt, hành quân bốn mùa đều tốt, có thần giúp không đánh mà được, địch nhân quy phục.
79.THIÊN TÂM ĐEM QUÂN ĐI NGÀN DẶM, THU ĐÔNG CÔNG THÀNH, nên
thư phù, hợp ước.
Thiên Tâm là Tiểu cát tinh, được kỳ thì đại cát. Vượng ở tháng Hợi Tý, Tướng ở
tháng Thân Dậu.Ra quân Thu Đông thì thắng lớn, bờ cõi ngàn dặm đất thu về. Gặp Xuân Hạ thì hung.
80.KHAI MÔN CHINH THẢO VẠN SỰ HANH THÔNG:
Cửa Khai là cát môn. Thu Đông Vượng nên đi xa chinh phạt.
Cửa Khai là thời vận đại thông, trăm công ngàn việc đón rước, giao dịch ăn uống, yết
quý nhân, mưu vọng giá thú di đồ tốt vô cùng. Ra quân các phương oai võ. Thương mại,
xây dựng dinh thự. Ra cửa đó thì gặp Quý nhân hay rượu chè. Muôn dặm đem quân bắt
giặc cùng.
81.HƯU MÔN TRI BINH LÀ RẤT TỐT:
Hưu môn thuộc Thủy là cát môn, tập nghiệp tri binh,…..trăm sự đều tốt. Kinh rằng:
“nhất dục hưu môn vạn sự hanh, sở nguyện cầu chi khả xứng tình, tam kỳ môn ngoại dân
binh khí, vạn thắng….toàn công tất thành”.
82.SINH MÔN RA TRẬN DỄ AI TRANH:
Sinh môn thuộc Thổ là cát môn, nên yết kiến và doanh tạo, chinh thảo theo Sinh môn
ra đại thắng. kinh rằng: “Sinh môn thì Sinh Sinh chi dục, cầu tài tu tạo tổng toàn hân, Sinh môn chi thương chủ dương vũ, đại lợi hành sư bách chiêu van”.
83.THƯƠNG MÔN ĐI BẮT HAY SĂN BẮN, NÓI ĐẾN HÀNH BINH ƯU HOẠN
SINH:
Thương môn thuộc mộc, nên săn bắn chài lưới, xuất hành gặp đạo tặc. Kinh rằng:
“Thương môn động chúng viễn kinh uy, ngư lập phùng chi chúng sự trì, bách chiền dương
binh lao phí lực, hành đa ưu hoạn tiến binh nguy”.
84.ĐỖ MÔN KIẾP THAI TÀNG HÌNH, ĐI HAY LẨN LỢI:
Đỗ môn thuộc Mộc, nên ẩn nấp phục dành hung nghịch, thâu doanh cướp trại thì đại
lợi, nếu cử binh động chúng đi tất là mê lẩn đường. Kinh rằng: “Đỗ môn tốn tắc khi âm
phong, tốt tong kỳ hạ chỉ tây đông, thâu doanh ẩn tích hành đại lợi, nhược cử binh hành mê muội hung”, chỉ nên đi ngầm mà không nên rõ rệt.
85.CẢNH MÔN DÂNG THƠ HIẾN KẾ, ĐỐT TRẬN PHÁ VÂY THÀNH:
Cảnh môn thuộc Hỏa, tiểu cát tinh, nên dâng thư hiến kế, đốt trận phá vây. Kinh rằng:
“Cảnh môn hưu dung chính đương huy, thương chủ hiến kế lợi đa từ, lô trận phá thành câu lô khi, nghi tổng môn hạ phá binh vi”.
86.TỬ CHỦ VIẾNG THĂM, ĐI HAY GẶP BỆNH:
Tử môn thuộc Thổ nên làm những việc hình phạt, điếu tang tống tử, xuất hành gặp
bệnh, chỉ lợi việc hung, không lợi việc cát, hành binh rất hung.
87.KINH BẮT KẺ GIAN, ĐI CÓ SỢ KINH:
Kinh môn thuộc Kim, chỉ nên tìm bắt kẻ gian, đấu tranh…..đi kiến hạn có kinh
khủng, xuất nhập không lợi.
88.TỪ ĐINH ĐINH XA ĐÁNH ĐỊCH QUÂN, TRĂM TRẬN TRĂM THẮNG:
Đinh Đinh là Quý thần trên trời, từ Đinh Đinh mà đánh ra phương xung thì thắng:
“Pháp đem nguyệt tướng gia chính thời” thấy sao Thần hậu ở đâu thì sao Đinh Đinh ở đấy.
bạch gian là kẻ gian ở trên trời, Bạch gian gia ở vào tứ mệnh thân là Dần Thân Tị Hợi.
Ngày Dần Ngọ Tuất thì bạch gian ở Hợi, ngày Hợi Mão Mùi thì Bạch gian ở….
Ngày Thân Tý Thìn ở phương Tị, Ngày Tị Dậu Sửu ở phương Thân.
89.NGUYỆT TƯỚNG TRONG 12 THÁNG:
Tháng giêng : Đăng minh Hợi. Tháng bảy : Thái ất Tị
Tháng hai : Hà khôi Tuất. Tháng tám : Thiên cương Thìn.
Tháng ba : Tòng khôi Dậu. Tháng chín : Thái xung Mão.
Tháng tư : Truyền tống Thân. Tháng mười : Công tào Dần.
Tháng năm : Tiểu cát Mùi. Tháng mười một : Đại cát Sửu.
Tháng sáu : Thắng quang Ngọ Tháng mười hai : Thiên hậu Tý.
VD: giờ Dần tháng giêng dụng sự, đem nguyệt tướng Đăng minh Hợi gia lên Dần
tính đi, thấy Thần hậu ở Mão thì là Đinh Đinh ở Mão vậy. Lại như tháng giêng giờ Tý
dụng sự, đem nguyệt tướng Đăng minh Hợi gia Tý tính thuận đi, thì thấy ở Thần hậu gia
Sửu thế là Đinh Đinh ở Sửu…..Kinh Rằng: “Bội đinh đinh kích bạch gian là vậy”.
90.THEO NGUYỆT KIẾN, THEO PHƯƠNG SINH KHÍ, MỘT MÌNH ĐỊCH
ĐƯỢC MUÔN BINH:
Nguyệt kiến nghĩa là tháng giêng kiến dần, tháng hai kiến Mão…..tính thuận đi đến
tháng 12 kiến Sửu.
Sinh khí nghĩa là tháng giêng Sinh khí ỏ phương Tý, tháng 2 ở Sửu, tính thuận đi đến
tháng 12 ở Hợi. Theo phương Nguyệt kiến Sinh khí ra….vào mà đánh phương đối xung thì
đại thắng.
Ông tướng đem quân ở rừng núi ra đánh đại…., một Đội theo phương Nguyệt kiến ra,
một đội theo phương Đinh Đinh ra, một đội theo phương Sinh khí ra mà đánh, thì một địch muôn người, trăm trận trăm thắng. kinh rằng: “Nhược chi hiếm đạo mưu toàn thắng, tam bộ phân binh đại phá uy”.
91.XEM DỤNG BINH CHỦ KHÁCH:
Động là Khách, Tĩnh là Chủ. Trong quẻ thì Thời can là tướng hiệu dụ binh, Trực sử
là Chủ bạn binh. Thái Âm là chủ phục binh. Nguyệt Can là Khách tướng hiệu. Nhật can là khách bạn binh. Lục Canh là Khách dụ binh. Huyền vũ là khách phục binh. Hễ thấy Sinh Vượng là Mạnh, Hưu Tù là yếu.
PHÉP DỤNG BINH
VD: Mình là hội tướng mệnh, xem hành quân vào ngày Đinh Mùi, giờ Ất Tị, Đại hàn
Dương độn hạ nguyên 6 cục.
Đem Giáp Thìn Lục Nhâm Trực phù ở Khảm gia lên Địa hạ Lục Ất thời can ở trung
ngũ (ký khôn). Thấy Canh với Đằng xà lâm Đoài cung gặp can Kỷ ở đó, như vậy là giặc
muốn đem quân đánh chặn đường lương thực mà vây chặt quân ta, may được ở cung Trực
sử có Giáp Mộc sinh Hợi tướng mệnh thiên bàn Đinh hỏa, tất là quân ta nhất tâm chống
lại, lúc này quân phục binh ở vị Thái âm mà đánh phá vậy.
VD: Mình là Hợi tướng mệnh, xem hành quân vào ngày Giáp Tý, giờ Tân Mùi, Hạ
chí Thượng nguyên Âm độn 9 cục.
Đem Giáp Tý Lục Mậu Trực phù gia lên Địa hạ Lục Tân thời can ở Kiền. Thấy Trực
sử Cảnh môn đến Khôn cung thiên bàn gặp Cửu địa ở Cấn và Kỷ Địa bàn. Thế là giặc ở
yếu địa cố thành lũy đợi. Đi lấy chỗ lập trận mà đen quân chặn sau quân ta, chặn đường lương thực, may được cung Trực sử, Canh môn thiên bàn Đinh hỏa sinh Hợi tướng mệnh thiên bàn Mậu thổ có cái tượng ba quân tuân lệnh, lúc này ta đem quân nghênh địch, phục súng đạn ở phương Tây nam, có vị Thái âm ở đó thì tất thắng lợi.
92.XEM CHỦ BINH:
Xét Địa bàn kỳ nghi với Thiên bàn kỳ nghi sinh hay khắc.
Lấy tướng mệnh làm chủ tướng binh, hễ thấy hạ thần sinh bản mệnh thượng thân thì
ba quân đồng tâm. (Nếu khắc thượng thần thì không đồng tâm). Canh, Huyễn vũ lâm vào
mệnh vị hay là Trực sử môn lâm Bính tất có giặc cướp trại, còn sự được thua xem thường hành kỳ nghi sinh hay khắc, khi dụng binh thiết kế, xem mệnh cung thiên bàn kỳ nghi, Thí dụ: được Ất kỳ thì chủ về việc nhân…
93.XEM KHÁCH BINH (XÉT THEO ĐỊA BÀN KỲ NGHI SINH KHẮC):
Lấy Lục thần làm Canh là địch. Thấy Nhật can, Nguyệt can thượng thần sinh Canh
thượng thần là khách binh nhất…., nếu khắc Canh thượng thần thì không có viện binh.
Canh gia Bính Đinh là đại hại. Còn xem sách tướng tinh, tinh dữ…..đặng thế nào thì xem ở thiên bàn Canh sở lâm thượng hạ cửu tinh tam kỳ.
94.XEM CHỦ KHÁCH ĐƯỢC THUA: xét theo địa bàn kỳ nghi sinh khắc.
Chủ tướng binh cùng khách tướng binh, hai thượng thần sinh nhau ấy là họa. Nếu chủ
khắc khách là chủ thắng, như khách khắc chủ là khách thắng. Chủ khách hành quân xem ở
bài Phú hành quân tam kỳ. Xem chủ khách ở phương nào thì xem ở Thiên bàn lâm dưới kỳ
nghi là gì? Như Giáp, Ất phương Đông, Bính Đinh phương Nam, lâm Mậu là ở bình
nguyên, lâm Kỷ là ở phù sa, Bính là ngọn núi cao, Đinh là chỗ quái thạch, Ất là chỗ hoang vu, rậm rạp. Nhâm là ở sông ngòi. Quý là sình lầy. Canh Tân là ở đường xá, miếu tù. Hành quân lấy tướng mệnh là chủ, liệu địch cần xét ở Lục Thân, nếu Canh lâm mà là đại cách tốt là quân ra nửa đường thua tan. Cứ lấy Canh bản vị thượng thần làm bảng phân phường.
95.XEM ĐẦU QUÂN:
Lấy Thiên xung làm người võ sĩ, lấu Trực phù làm ông chủ soái. Thấy Trực phù cung
sinh Thiên xung cung hoặc là cung Thiên xung sinh cung Trực phù thì một lần đi là được.
Nếu hai cung khắc nhau là không được. Nếu Thiên xung lâm Trực phù thì đi đầu quân tất làm bộ trưởng ngay, sau hẳn làm to, bị phục ngâm là về không, bị phản ngâm là dở đi dở lại không được.
96.XEM CÔNG THÀNH:
Lấy Lục Canh làm kẻ đánh, lấy Thiên Cầm là kẻ thủ, Lục Canh được vượng tướng,
lại được Khai môn gia vào cung ngũ trung thì thành ấy tất đánh được. Lại xem địa bàn lâm cung nào, nếu được vượng tướng và cát môn thì thành tuy bị phá nhưng người chủ tướng thì không bắt được, không được vượng tướng thì người chủ tướng phải chết.
97.XEM THỦ THÀNH:
Lấy Thiên Cầm làm kẻ thủ, Thiên bồng, Lục Canh làm kẻ đánh. Cung Thiên cầm có
Khai, Hưu Sinh, Cảnh môn hoặc có Lục Bính lại gặp vượng tướng thì chắc thành giữ
được, nếu không được vượng tướng và cát môn, lại gặp Thiên bồng, Lục Canh gia vào
cung trung thì hẳn là thành không giữ được.
98.XEM ĐẠO TẶC:
Địch binh đi lại phải phân giới hạn. Từ tiết Đông chí trở đi lấy Khảm Cấn Chấn Tốn
làm giới hạn bên trong, mà Khôn Ly Đoài Kiền làm bên ngoài.
Lục Canh bị lục cung khắc (Canh thiên bàn bị cung khắc) là giặc đóng trại không yên
ôn, hẳn là vì kinh sợ mà lui.Lục Canh mà khắc Lục cung, lại gặp Thiên bồng Huyền vũ hoặc Bạch hổ thì hẳn là có đại chiến.Lục Canh mà gặp Cửu thiên hẳn là đại trương thanh thế, mở cờ going trống mà tiến.Lục Canh gặp Cửu địa thì hẳn là giặc im cờ lặng trống mà đến. Muốn coi xem giặc bao giờ đi, nếu thấy Lục Canh ở vào bốn cung bên trong thì hẳn là không đi, mà ở vào bốn cung bên ngoài là đi. Xét Can Chi ở Địa bàn cung Lục Canh gia lâm thì sẽ biết ngày tháng năm của giặc đi hay đến, như gia vào năm tốt là một năm mới đi lui..v.v.v
Thấy Bạch nhập Huỳnh: tuy là điềm có giặc đến nhưng nếu thấy ở vào bốn cung
ngoài thì giặc cũng không đến.
Thấy Huỳnh Nhập Bạch thì tuy chủ là điềm giặc lui binh, nhưng nếu thấy gia vào bốn
cung trong thì giặc cũng chẳng lui.
99.XEM GIẶC ĐẾN THÀNH CÓ GIỮ ĐƯỢC KHÔNG:
Lấy Thời can làm Khách, thời Chi làm chủ (tức là cung Trực phù và Trực sử) xem
sinh khắc thế nào. Nếu như cung thừa Chi địa bàn bị cung Trực phù, Trực sử lạc cung
khắc chế, mà cung thời Chi lại có Lục Canh Huyền vũ lâm vào thì nên bỏ thành. Hoặc là
cung Trực sử dù bị hạ khắc thì thành này cũng không nên ở, nên lui ngay. Nếu cung Trực Phù với cung Trực sử cùng sinh vượng, tỉ hòa hoặc là cung Trực phù tự thụ hình khắc thì dẫu địch có đến cũng không thắng lợi được, mình cứ giữ mà không hại gì.
100.XEM ĐƯỢC THUA:
Phần chiến trận lấy Cảnh môn Kinh Môn là chủ. Kinh rằng: “Cảnh nên nghĩ phá trận,
Hưu trị loạn chi pháp yếu, Kinh môn lấy trực phù lập cung làm chủ. Lục Canh lạc cung
làm Khách. Cung Trực phù khắc cung Lục Canh thì Chủ thắng. Cung Lục Canh khắc cung
Trực phù là Khách thắng. Lại thấy nếu bên nào vượng tướng thì bên ấy thắng, bên nào
Hưu Tù thì thua.Chủ gặp Cảnh môn Kinh môn hay cung Khai môn tướng sinh thì Chủ thắng. Khách
được Cảnh môn Kinh môn hay Khai môn tướng sinh thì Khách thắng. Cung Chủ cung
Khách tương sinh hẳn là giẳng hòa. Chủ Khách đều gặp vượng tướng đều được Cảnh Kinh hai môn, lại không hình khắc nhau thì sức tương đương, hai bên sợ nhau không đánh đều lui. Nếu Lục Canh làm trực phù thì thế là Chủ Khách đồng cung, hai bên
không phân thắng bại. Nhật Can gia Canh thì Chủ thắng, Canh gia Nhật Can thì Khách thắng..
VD: Ngày Bính Tân, giờ Nhâm Thìn, Cốc vũ, Thượng nguyên, dương độn 5 cục.
Thấy Thiên Trụ đi với Lục Canh làm Trực phù, như vậy là hai bên bất phân thắng
bại, tự rút lui.

độn giáp kiếm đấu 8

59.CANH GIA NHÂM LÀ TIỂU CÁCH: GIỜ NÀY HUNG, BINH CHẲNG DÁM
DÙNG.
Thiên bàn Canh gia Địa bàn Nhâm gọi là Thiên địa Tiểu cách. Giờ này xấu không
nên dùng.
VD: Ngày Giáp Kỷ, giờ Tân Mùi, Đông chí,
Thượng nguyên, dương độn 1 cục.
Lấy Thiên thượng Lục Mậu giáp Tý Thiên
bồng Trực phù gia lên Địa hạ Lục Tân thời Can ở
Tốn. Thấy Canh ở Chấn bay đến trên Nhâm ở ngũ
trung ký ở cung Khôn gọi là Thiên Địa Tiểu cách.
60.CANH GIA ẤT: ĐÁNH TRƯỚC THÌ THẮNG.
Thiên bàn Canh gia Địa bàn Ất hay gia lên Thiên xung, Thiên Phụ hay Cửa Thương,
Đỗ đều là trên khắc dưới, đánh trước là thắng, dù còn một ngựa, một đao cũng thắng. Tại
sao vậy: vì Thiên bàn là Khách, là động trước, Địa bàn là Chủ (động sau).
VD: Ngày Giáp Kỷ, giờ Canh Ngọ, Đông
chí, thượng nguyên, dương độn 1 cục.
Đem Phù đầu giáp Tý Mậu sao Thiên bồng
gia lên Địa hạ Lục Canh thời can ở Chấn. Thấy
rằng Thiên thượng Lục Canh bay đến cung Ly gia
lên Ất. Canh gia Ất thì lợi về đánh trước. Nghĩa
là thượng khắc hạ.
61.CANH GIA BÍNH ĐINH: ĐÁNH TRƯỚC THÌ THUA.
Thiên bàn Canh gia địa bàn Bính Đinh,
cũng là Ly, Cảnh môn đều là dưới khắc trên.
nếu đánh trước thì thua, dù có thiên binh vạn
mã cũng không về được.
VD: Ngày Giáp Tý, giờ Ất Sửu, hạ chí,
thượng nguyên, Âm độn 9 cục.
Đem trực phù Giáp Tý Mậu Thiên Anh
Trực phù gia lên Địa hạ Lục Ất thời can ở Khảm. Thấy Thiên thượng Lục Canh gia lên địa
hạ Lục Đinh ở Chấn, là Canh gia Đinh, Đinh khắc Canh, dưới khắc trên. Giờ này không
nên đánh trước, đánh trước sẽ thua, lợi Chủ và không lợi Khách.
62.BÍNH GIA CANH, GIẶC ĐÃ LUI TRƯỚC:
Thiên bàn Bính gia địa bàn Canh gọi là Huỳnh nhập Bạch. Giờ này mang quân đi
đánh giặc thì giặc đã trốn xa. Kinh rằng: “Nhật tinh tự tương nhập, Hung tinh tương
hoành, Quý đắc kỳ môn (dẫu được kỳ môn), việc thân việc hanh (cũng chớ vội vàng), cất
quân trước thì tốt, sau thì hung”.
VD: Ngày Giáp Tý, giờ Bính Dần, Hạ chí,
thượng nguyên, Âm độn 9 cục.
Trực phù Giáp Tý Mậu sao thiên Nhuế gia
lên Địa hạ Lục Bính thời can ở Khôn. Thấy thiên
thượng Bính kỳ bay trên Canh ở Đoài là Cách Huỳnh nhập Bạch. Giờ này xem giặc, giặc đã bị rút lui.
63.CANH GIA BÍNH GIẶC SẮP TỚI NƠI:
Thiên thượng Lục Canh gia Địa hạ lục Bính, gọi là “Bạch nhập Huỳnh”, giờ này giặc
tất đến, nên phòng. Kinh nói: “hung tinh tương nhập hung tinh đổ, mặc ỷ kỳ môn cường
chiến tranh”, Chủ Khách bại động sau tốt.
VD: Ngày Ất Canh, giờ Mậu Dần, hạ
chí Trung nguyên Âm độn Tam cục, đem Lục
kỷ Trực phù ở Khôn gia Lục Mậu thời can ở
Chấn. Thấy Lục Canh ở Khảm gia Lục Bính
ở ngũ trung ký ở Khôn gọi là Bạch nhập
huỳnh. Chủ khách đều bất lợi. Nếu cậy có Kỳ
môn ở Khảm mà xuất quân thì thua.
64.BỐ MẸ ANH EM XÉT CANH GIA Ở CAN TUẾ, NGUYỆT:
Tuế Can, nguyệt can gặp Lục Canh gia vào tất có sự không yên, xem gia trạch thì
Can Năm là cha mẹ, Can tháng là anh em. Binh sự thì can Năm là Thiên tử, can tháng là
tướng soái, Nếu gặp Canh gia: trong nhà thì người trong nhà không yên, xem trong quân
thì sĩ tốt tổn thương. Về chiến lợi chủ không lợi khách, cất quân đánh trước thì thua.
VD: Năm Tân Sửu, ngày Giáp Tý, giờ Quý
Dậu, Lập xuân, Trung nguyên Dương độn 5 cục.
Đem Lục Mậu Trực phù Thiên cầm gia lên
Địa hạ Lục Quý thời can ở Khảm. Thấy Lục
Canh ở Đoài gia Lục Tân Tuế Can ở Cấn gọi là
Tuế cách, lại có Đằng xà lâm vào phòng bố mẹ
có sự lo nghĩ, hoảng hốt không yên.
VD: Năm Quý Hợi, tháng Ất Mão, Ngày
Giáp Tý, giờ Canh Ngọ, Kinh chập Thượng
nguyên Dương độn 1 cục.
Đem Lục Mậu Trực phù Thiên bồng gia lên
Địa hạ Lục Canh thời can ở Chấn. Thấy Canh gia
Lục ất Nguyệt can ở Ly, gọi là “Nguyệt cách”.
Lại gặp Kinh môn lâm vào nên phòng anh em có
lo ngại. Xét ở Dương cung thì đàn ông con trai; mà ở Âm cung thì đàn bà con gái có lo
ngại.
65.VỢ CON BẢN MỆNH XÉT CANH GIA Ở CAN NGÀY, CAN GIỜ:
Can Ngày, Can giờ gặp Canh gia lên tất có truyện, giờ này không nên động chúng,
xem ở trong nhà thì can Ngày là mình, can giờ là
vợ con. Trong quân thì can Ngày là tướng hiệu,
can giờ là quân sĩ.
VD: Ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Tiểu thử,Hạ nguyên, Âm độn 5 cục.
Đem lục Mậu Thiên Cầm Trực phù ở Trung ngũ gia lên địa hạ Lục Bính thời can ở
Đoài gọi là “Long phản thủ”. Thấy Lục Canh ở Chấn gia Lục Kỷ ở Tốn gọi là Nhật cách,
lại gặp Kinh môn lâm phòng, mình có lo nghĩ.
VD: Ngày Bính Tân, giờ Kỷ sửu, Thu phân, hạ nguyên, âm độn 4 cục.
Đem lục canh trực phù thiên nhuế gia lên địa hạ lục kỷ thời can ở chấn, gọi là Thời
cách, gặp hưu môn lâm tất vợ con có hỷ sự.
66.BÍNH GIA NHẬT CAN TÊN LÀ BỘT, LOẠN NGHỊCH LÚC NÀY ẮT CHẲNG
SAI:
Lục Bính gia Nhật can gọi là Bột, giờ này ắt trong quân kỷ cương rối loạn. Kinh
rằng: “Bính Đinh là Bột hỏa tinh huỳnh bạch cách. Gia trạch tha an, nhiên thu nguyệt vân
sầu khóc”.
VD: Ngày Ất Sửu, giờ Mậu Dần, Đông chí
Thượng nguyên Dương độn 1 cục.
Đem Lục Kỷ Trực phù Thiên Nhuế gia Địa
hạ Lục Mậu thời can ở Khảm. Giờ này Lục Bính
ở Cấn gia Lục Ất Nhật can ở Ly gọi là “Nhật
Nguyệt Bột” chủ kỷ cương rối loạn, rất xấu.
VD: Ngày Đinh Tỵ, giờ Đinh Mùi, Đông
chí Trung nguyên Dương độn 7 cục.
Đem Lục Nhâm Thiên Nhuế trực phù gia
lên Địa hạ Lục Đinh thời can ở Tốn. Thấy Lục
Bính ở ngũ trung gửi ở Khôn 2, nay Bính gia
lên Đinh ở Tốn 4, Đinh là can ngày nên gọi là
“Thái bột, nhật bột”, rất xấu.
67.SAO TỐT MÀ GẶP HƯU TÙ, BA
QUÂN CHỚ TIẾN:
Sao tốt là Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên
Tâm, Thiên Xung, Thiên Nhậm.. Trực sử gia
lâm cung nào mà cửu tinh ở địa bàn cung ấy
được vượng thì dung, nếu bị hưu tù tử phế thì
không nên ra quân.
VD: Ngày Giáp Kỷ, giờ Đinh Mão, Đông
chí, Thượng nguyên, Dương độn 1 cục.
Giờ Đinh Mão Trực sử Hưu môn gia lên
cung Tốn, tại Tốn có sao Thiên Phụ là tinh ở Địa bàn, Thiên phụ gặp mùa Đông tháng Tý
thủy, Nguyệt Tý sinh Thiên phụ là Tù khí không nên động binh.
68.SAO TỐT MÀ VƯỢNG TƯỚNG: TRĂM TRẬN CÔNG THÀNH.
Sao tốt mà vượng tướng khí: hành quân
vạn cử vẹn toàn.
VD: Ngày Giáp Tý, giờ Bính Dần, Kinh
chập, thượng nguyên, dương độn 1 cục.
Giờ Bính Dần thì Hưu môn Trực sử gia lên
cung Chấn, là bản gia của sao Thiên xung địa
bàn. Thiên xung gặp tháng Mão là vượng khí,
Thiên xung là sao cát gặp vượng khí thì rất tốt, giờ này cử binh vạn cử vạn thắng