Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

MỘT SỐ KIÊNG KỴ TRONG ÂM TRẠCH

1.Kiêng kỵ theo TÍCH HỢP ĐA VĂN HOÁ ĐÔNG TÂY CHO MỘT CHIẾN LƯỢC GIÁO DỤC TƯƠNG LAI (của Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương).
Bát sát hoàng tuyền:
- Kiền Long, kỵ dòng thuỷ từ Ngọ đến.
- Đoài Long, kỵ dòng thuỷ từ Tị đến.
- Ly Long, kỵ dòng thuỷ từ Hợi đến.
- Chấn Long, kỵ dòng thuỷ từ Thân đến.
- Tốn Long, kỵ dòng thuỷ từ Dậu đến.
- Khảm Long, kỵ hai dòng thuỷ từ Thìn,Tuất đến.
- Cấn Long, kỵ dòng thuỷ từ Dần đến.
- Khôn Long, kỵ dòng thuỷ từ Mão đến.

Thời gian kỵ (năm,tháng,ngày,giờ):
Khi chọn giờ an táng, cất nhà, khởi ốc, an các vị Thần Hoàng,các hình tượng tín ngưỡng…thì có những kiêng kỵ thời gian.
- Kiền Sơn kỵ thời gian(năm, tháng, ngày, giờ) Nhâm Ngọ.
- Đoài Sơn kỵ thời gian Đinh Tị.
- Ly Sơn kỵ thời gian Kỷ Hợi.
- Chấn Sơn kỵ thời gian Canh Thân.
- Tốn Sơn kỵ thời gianTân Dậu.
- Khảm Sơn kỵ thời gian Mậu Thìn,Mậu Tuất.

- Cấn Sơn kỵ thời gian Bính Dần.
- Khôn Sơn kỵ thời gian Ất Mão.

Kiếp sát:
- Các Sơn Tốn, Mùi, Thân có Kiếp sát tại Quý.
- Tuất Sơn Kiếp sát tại Sửu.
- Canh Sơn Kiếp sát tại Ngọ.
- Chấn,Cấn Sơn Kiếp sát tại Đinh.
- Giáp Sơn Kiếp sát tại Bính.
- Nhâm Sơn Kiếp sát tại Thân.
- Kiền Sơn Kiếp sát tại Mão.
- Bính Sơn Kiếp sát tại Tân.
- Tý Sơn Kiếp sát tại Tị.
- Tị, Ngọ Sơn Kiếp sát tại Dậu.
- Đinh, Dậu Sơn Kiếp sát tại Dần.
- Khôn, Hợi Sơn Kiếp sát tại Ất.
- Thìn, Dần Sơn Kiếp sát tại Mùi.
- Ất Sơn Kiếp sát tại Thân.
- Sửu Sơn Kiếp sát Thìn.

Kiếp sát có nghĩa là nếu toạ Sơn (tức phương gối đầu) là Sửu thì kiêng kỵ ở phương Thìn có sơn sa cao, nhưng nghiêng ngả, lệch vẹo, hoặc có nhiều đá gồ ghề, lởm chởm thì thế này là khá nguy hiểm. Nhưng nếu sơn sa đó lại ngay ngắn, tròn trịa, đẹp đẽ thì thế này không đáng sợ.
2.Kiêng kỵ theo ĐỊA LÝ ĐẠI TOÀN TẬP YẾU
Đằng sau đền miếu không an phần mộ, nếu không sau một thời gian dài con cháu sẽ ít dần.
Thập bất tương:
Một, đá xấu xí.
Hai, thuỷ chảy gấp như tranh giành.
Ba, chaỷ đếnđến chỗ tận cùng.
Bốn đầu Long đơn độc.
Năm, Thần trước Phật sau.
Sáu, mộ trạch bỏ phế.
Bảy, núi đồi tán loạn.
Tám, sơn thuỷ bi sầu.
Chín chỗ ngồi lún sụt.
Mười, đầu Long và Hổ nhọn hoắt.

Tứ bất hạ:Bốn điều không nên hạ huyệt.
Một, nơi đỉnh đồi đỉnh núi.
Hai, nơi Long,Hổ giương mày.
Ba, chỗ trước sau có Quỷ kiếp.
Bốn, chỗ có tám phía gió thổi.

Thập hung.Mười điều hung:
Một gọi là Thiên bại, là nơi từng bị nạn hồng thuỷ tràn qua, Long thần bất an, nếu kết huyệt thi con cháu ly tán,bơ vơ.
Hai gọi là Thiên sát, là nơi từng bị sét đánh, Long thần kinh hãi sẽ khiến con cháu nghèo khó .
Ba gọi là Thiên cùng, lạc huyệt cô đơn mà Huyền vũ lè lưỡi, thuộc nơi đầu nguồn đuôi thuỷ, sẽ khiến con cháu cô đơn.
Bốn gọi Thiên khuynh, là nơi Minh đường nghiêng trôi, thuỷ không quy tụ, Long thần không trú, sẽ khiến gia chủ mất người, mất của.
Năm gọi là Thiên vệ, là nơi tám phía gió thổi tới , Long thần không trú,sẽ khiến con cháu du thủ du thực, lười nhác.
Sáu gọi là Thiên thấp, là nơi Minh đường hôi hám, nhầy nhụa, Long thần không tốt, sẽ gây bệnh tật triền miên.
Bảy gọi là Thiên ngục,là nơi bên dưới có hang hố,không thấy ánh sáng,Long thần ám muội, sẽ khiến người ngu muội.
Tám gọi là Thiên cẩu, là nơi ngoài khuỷu sơn, không có Long thần, hai bên Tả Hữu huyệt vị không có sơn phong hộ vệ, gió thổi thuỷ cuốn, sẽ khiến con cháu gian nghịch, bất hiếu.
Chín gọi là Thiên ma, là nơi đất đá chênh vênh không chắc, Long thần nông cạn, khiến người nông cạn.
Mười gọi là Thiên cô, là nơi da,l ông khô lẻ, không tươi nhuận, khiến người thất bại.
Còn có thuyết nói rằng: Lạc táng ở mộ cổ hoang phế đời con bị câm điếc. Lạc táng ở sau đền miếu, con cháu sẽ bị kiện tụng. Lạc táng ở nơi Sơn tiêu mộc khách, sẽ khiến con cháu tà dâm.
Nếu táng ở thùng đấu (nơi người ta lấy đất đóng gạch ngói) thì con cháu bị tật, sẹo. Nếu lạc táng bên đường không rõ ràng, nếu là hung phương thì người bị nạn về thừng chão, nếu tại cát phương cũng cát lợi.
3.Kiêng kỵ theo DƯƠNG TRẠCH ĐẠI TOÀN.
Gần nhà có mộ cũ còn khả dĩ, nếu lại thêm mộ mới, thì sẽ tổn hại đến nhân đinh.nói chung mộ phần không đặt ngay đằng trước nhà, vì trong vòng 30 mươi năm, số nhân khẩu sẽ chết quá nửa.
4.Kiêng kỵ theo ĐỊA ĐẠO DIỄN CA của Cụ TẢ AO.
Huyệt hung Minh Đường bất khai
Sơn tà thuỷ sạ hướng ngoài tà thiên
Táng xuống kinh sảng bất yên
Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau.

LƯU Ý KHI BÀY ĐỒ PHONG THỦY TRONG NHÀ

Khi bạn đi chọn đồ để tặng hay để bày tại phòng làm việc, phòng khách nên lưu ý một số chi tiết sau:

1. Đầu hươu hướng nội: Vì “hươu là lộc”, đầu hươu hướng vào trong, ý chỉ lộc vào nhà, phòng. Vì vậy nếu bày tượng hươu phải bày quay đầu vào trong nhà, phòng mới có tác dụng, kể cả Thiềm Thừ tức là có 3 chân, cóc tài lộc. Riêng Tỳ Hưu thì quay đầu ra cửa chính hoặc cửa sổ để thu hút tài khí bốn phương về cho gia chủ.

2. Đầu ngựa hướng ngoại: Vì “ngựa là tài”, ngựa đá hay gỗ, đầu phải hướng ra cửa hàm ý cầu tài.

3. Sư tử có đôi: Bất luận sư tử đá hay gỗ, nếu bày trong phòng nhất thiết phải có đôi: một đực - một cái. Con đực đùa quả cầu, con cái giỡn sư tử con. Đầu sư tử hướng ra ngoài, có tác dụng trấn trạch, trừ tà.

4. Hổ lên núi: Trang trí về hổ rất thông thường, nhất là treo tranh hổ hoặc thảm hổ. Hổ nên leo núi, đầu hổ ngoảnh lại. Hổ leo lên núi ý chỉ chủ nhà ngao du khắp nơi, song vẫn nhớ nhà. Nếu hổ đang xuống núi là chỉ đang đi tìm mồi, hại người vô số, ý nghĩa không tốt.

5. Thuyền lớn vào cảng: Treo tranh vẽ thuyền lớn vào cảng hoặc bày mô hình tàu thuyền, trên thuyền phải có nhiều châu báu. Đầu thuyền phải nhất định quay vào trong nhà, kỵ quay ra cổng. Có câu: “Thuyền lớn vào cảng, chủ tiền vào nhà”.

6. Kiếm có tua: Kiếm gỗ, kiếm sắt bất luận treo trên tường hay đặt trên giá đều phải có tua hồng. Vì đồ đao kiếm quá dương cương, dùng tua hồng có thể “chuyển cương thành nhu”.

7. Mỏ gà chĩa ra ngoài: Có một số nơi dùng tượng gà làm bằng gỗ hoặc sứ chĩa mỏ ra ngoài để hóa giải cột điện, góc nhọn, đầu hồi nhà khác chĩa vào nhà.

8. Sông chảy vào nhà: “Thủy cai quản tài”, mà “tài” là tiền của nên chảy vào kho. Vì thế nên tranh vẽ dòng nước chảy phải hướng vào bên trong nhà (chiêu tài). Tranh quốc họa Trung Quốc có núi, có suối, có sông phải chú ý đặt hướng chảy của dòng suối, dòng sông vào nhà, kỵ chảy ra ngoài (tản tài).

9. Đầu rồng hướng ngoại : Nếu tranh vẽ hoặc vật trang trí có hình rồng, tượng rồng, thì đầu rồng phải hướng ra cửa chính. Nên bố trí trên bờ tường phía bên trái phòng khách (từ trong phòng khách nhìn ra) nếu là tranh ảnh rồng, hoặc bên trái bàn làm việc, nếu là tượng rồng, để trừ khử kẻ tiểu nhân.

10. Cây cảnh chuyển dương: Thực vật vốn là vật ở ngoài nhà, thuộc âm, khi đặt chậu cảnh không thể quá nhiều. Quá nhiều sẽ gây ẩm ướt, lạnh lẽo.Phòng khách không nên bày chậu cảnh có gai như cây xương rồng, cây hoa hồng. Cây cảnh bị khô héo phải bỏ ngay lập tức. Nếu các cây cảnh bày ở ban công hoặc ở vườn nhà không cần treo sợi tơ đỏ. Phòng ngủ không nên đặt các chậu cây cảnh.

11. Đá núi điểm hồng: Đá núi làm cảnh giống như cây cảnh là vật ngoài nhà, thuộc âm, nếu chuyển vào nhà phải treo sợi tơ đỏ hoặc dùng bút đỏ chấm vào núi cảnh. Nếu các tượng đá động vật, gạt tàn bằng đá được chế tác nên đã chuyển thành dương, không cần điểm hồng.

12. Vật quái dị không nên bày: Những vật quái dị, hình thù kỳ quái không nên bày trong nhà.

CỬU TINH TRONG HUYỀN KHÔNG PHI TINH

Theo trường phái Huyền Không thì mọi sự tương tác của các sự vật hiện tượng đều do Cửu Tinh (9 ngôi sao) cai quản và họ dựa trên Cửu tinh để suy luận cát hung. Huyền Không phái hay còn gọi là Huyền Không Phi Tinh là một trường phái xuất hiện từ lúc nào thì chưa thể xác định chính xác được. Mà theo sự ghi chép của những thư tịch cổ thì vào đới Hán, trong "Hán Thư, Văn nghệ chí" người ta thấy có mối quan hệ với các bài ca quyết của Huyền Không phái được ghi chép vào khoảng đời Đường trở về sau của các Phong Thuỷ Học như Dương Quân Tùng đời Đường (viết các cuốn: Thiên Ngọc Kinh, Thanh Nang Áo Ngữ, Đô Thiên Bảo Chiếu Kinh), Tăng Văn Sơn đời Đường (viết cuốn Thanh Nang Tự), Ngô Cảnh Loan đời Tống (viết các cuốn Huyền Không bí cấp, Huyền cơ phú) và đến cuối đời nhà Thanh cuốn Thẩm Thị Huyền Không Học được Thẩm Trúc Nhưng hoàn thiện lại toàn bộ học thuyết và công bố thì mọi người mới được biết rõ ràng. Và theo ghi chép của họ Thẩm trong cuốn sách thì trường phái này còn có các môn đồ như Vô Cực Tử, Tưởng Đại Hồng, Khương Thổ, Chương Trọng Sơn.

Huyền Không Học cũng lấy Dịch Học làm cơ sở, nguyên lý của nó là vạn vật dịch chuyển không ngừng. Ngoài ra không thể không áp dụng nguyên lý Âm Dương - Ngũ Hành làm cơ sở suy luận. Huyền Không Học còn sử dụng Hậu Thiên Bát Quái, tức sự phân bố bát quái do vua Văn Vương phát minh làm cơ sở
Theo Huyền Không phái, Cửu tinh đều có những đặc tính tốt xấu riêng:
+ 1 - Nhất Bạch Thuỷ Tinh : sao Văn Xương.

- Cát: Nếu Nhất Bạch là vượng tinh thì chủ về xuất thần đồng, người tài, văn nghiệp hiển hách, văn thần và vượng cả về nhân đinh và tài lộc.
- Hung: Nếu Nhất Bạch là suy tinh thì chủ về hoạ câm điếc, tạng thận hay các bệnh không sinh đẻ...trộm cướp, tửu sắc, hao tổn về người, tài sản lụn bại.

+ 2 - Nhị Hắc Thổ Tinh : sao Bệnh Phù.

- Cát: Nếu Nhị Hắc là vượng tinh thì chủ vượng về nhà cửa ruộng vườn, con cháu đông đúc, phát về võ (có tầm nhìn chiến lược).
- Hung: Nếu Nhị Hắc là suy tinh thì chủ về các bệnh ở bụng, bệnh ngoài da, tỳ vị, hoả tai, ngục hình, bị nữ nhân hay tiểu nhân hãm hại,tai nạn, xuất quả phụ, hao tổn về người, phá sản.

+ 3 - Tam Bích Mộc Tinh : sao Lộc Tồn.

- Cát: Nếu Tam Bích là vượng tinh thì chủ về sự nghiệp hưng vượng, được phú quý.
- Hung: Nếu Tam Bích là suy tinh thì chủ về các bệnh ở chân, gan, hình ngục, tai nạn, sự nghiệp lụn bại.

+ 4 - Tứ Lục Mộc Tinh : sao Văn Khúc.

- Cát: Nếu Tứ Lục là vượng tinh thì chủ về văn tài, công danh hiển hách, nhân đinh tài lộc đều tốt đẹp, vợ hiền, con gái xinh đẹp, văn nghệ giỏi, con gái trưởng phát đạt.
- Hung: Nếu Tứ Lục là suy tình thì chủ về bệnh ở đùi, mật hay bị sẩy thai, dâm loạn, tử sắc, trộm cướp.

+ 5 - Ngũ Hoàng Thổ Tinh : sao Chính Quan.

- Cát: Nếu Ngũ Hoàng là vượng tinh thì chủ về tài lộc nhân đinh đều vượng, phú quý song toàn.
- Hung: Nếu Ngũ Hoàng là hung tinh thì chủ về bệnh tỳ vị, vàng da, ung nhot, trúng độc, dâm ô nặng hơn hao người tốn của, phá gia bại sản.

+ 6 - Lục Bạch Kim Tinh : sao Vũ Khúc.

- Cát: Nếu Lục Bạch là vượng tinh thì chủ về giầu có, đông con nhiều cháu, quý hiển và có quyền hành về võ nghiệp.
- Hung: Nếu Lục Bạch là suy tinh thì chủ về bệnh ở đầu, phổi, xương cốt. Bị trộm cướp, ngục hình, cô độc hay tổn đinh.

+ 7 - Thất Xích Kim Tinh : sao Phá Quân.

- Cát: Nếu Thất Xích là vượng tinh thì chủ về tài đinh đều vượng, võ nghiệp phát, người con gái thứ phát đạt.
- Hung: Nếu Thất Xich là suy tinh thì chủ về các bệnh miệng, cổ, phổi. Hao tổn nữ đinh, trộm cướp, ngục tai, hoả tai, tiền bạc nhân đinh đều tổn hại.

+ 8 - Bát Bạch Thổ Tinh : sao Tả Phụ.

- Cát: Nếu Bát Bạch là vượng tinh thì chủ phát về ruộng đất nhà cửa, phát nhân đinh tài lộc, xuất trung thần, phú quý, trường thọ.
- Hung: Nếu Bát Bạch là suy tinh thì chủ về các bệnh ở tay, đầu, mũi, xương sống, tỳ vị, thần kinh, gân. Hao tổn nam đinh, tiền tài.

+ 9 - Cửu Tử Hoả Tinh : sao Hữu Bật.

- Cát: Nếu Cửu Tử là vượng tinh thì chủ vượng nhân đinh tài lộc, văn tài trung hiếu, quý hiển trường thọ.
- Hung: Nếu Cửu Tử là suy tinh thì chủ về các bệnh về mắt, tim, máu huyết, vô sinh, tuyệt tự, hoả tai, hao tổn tài lộc.

Việc ứng dụng những hiểu biết về Phong thuỷ vào thực tiễn còn đòi hỏi chúng ta có sự tổng hợp, đúc kết những tinh hoa của các trường phái với nhau để có sự lựa chọn hợp lý nhất cho mỗi trường hợp hay con người cụ thể.


Sau khi mình lấy hướng nhà theo bát trạch xong thì việc xác định các sao ở mổi cung là sao gì, để từ đó xem việc nơi nào có thể mở cửa, đặt giường ngủ, bàn làm việc , v.v...